Máu là mô đặc biệt chứa đủ các vật chất cần thiết cho cơ thể sống, là thành phần quan trọng nhất của nội môi và cũng là nguồn gốc tạo ra các dịch thể khác của nội môi. Thiếu máu cơ thể sẽ bị mệt mỏi, giảm khả năng lao động và sinh ra nhiều bệnh tật.
Trong chương này sẽ trình bày các nội dung: khối lượng, thành phần và chức năng của máu; cấu tạo và chức năng của hồng cầu, bạch cầu, tiểu cầu; nhóm máu và truyền máu; quá trình cầm máu và đông máu; thành phần và tính chất của huyết tương.
1. KHỐI LƯỢNG, THÀNH PHẦN VÀ CHỨC NĂNG CỦA MÁU
1.1. Khối lượng và thành phần của máu
Máu là mô lỏng lưu thông trong hệ tuần hoàn. Cứ 1 kg thể trọng có 75 - 80ml máu. Trẻ sơ sinh có 100ml máu/kg cân nặng, sau đó khối lượng máu giảm dần. Từ 2 -3 tuổi trở đi khối lượng máu lại tăng dần lên, rồi giảm dần cho đến tuổi trưởng thành thì ổn định. Ở người trưởng thành, bình thường máu chiếm 7 - 9% trọng lượng cơ thể. Một người nặng 50kg có khoảng 4 lít máu. Bình thường khoảng 50 - 60% khối lượng máu lưu thông trong hệ thống tuần hoàn, 40-50% khối lượng máu chứa ở các kho dự trữ máu, như lách, gan, da.
Khối lượng máu tăng lên sau khi ăn, uống, khi mang thai, khi truyền dịch và giảm khi cơ thể ra nhiều mồ hôi, nôn mửa, ỉa chảy, chấn thương có chảy máu bên trong hoặc bên ngoài cơ thể... Nếu mất máu từ từ tới 20% tổng lượng máu, cơ thể vẫn có khả năng bù trừ, còn mất máu cấp diễn (mất máu ở các tạng lớn, mất máu đường động mạch...) khối lượng máu bị giảm đột ngột tới 20%, cơ thể không có khả năng tự bù trừ; nếu không cấp cứu kịp thời, có thể bị tử vong.
Máu gồm hai thành phần: thể hữu hình (huyết cầu) và huyết tương. Các thể hữu hình của máu là hồng cầu, bạch cầu và tiểu cầu, chiếm 43 - 45% tổng lượng máu, chỉ số này được gọi là hematocrit. Hồng cầu là thành phần nhiều nhất trong thể hữu hình. Huyết tương chiếm 55 - 57% tổng lượng máu. Huyết tương chứa toàn bộ các chất cần thiết cho cơ thể: nước, protein, các chất điện giải, các hợp chất hữu cơ và vô cơ, các hormon, các vitamin, các chất trung gian hoá học, các sản phẩm chuyển hoá. Huyết tương bị lấy mất fibrinogen thì gọi là huyết thanh.
Máu có đặc tính là hằng định. Tính hằng định của máu được đánh giá qua các chỉ số sinh lý, sinh hoá máu. Các chỉ số này, trong điều kiện bình thường chỉ dao động trong một phạm vi rất hẹp. Vì vậy chúng được coi như là hằng số. Sự hằng định của nội môi là điều kiện quan trọng cho sự hoạt động bình thường của tế bào, của các cơ quan và của toàn cơ thể. Sự hằng định nội môi được duy trì nhờ hoạt động của nhiều hệ thống cơ quan trong cơ thể. Xét nghiệm, kiểm tra các chỉ số sinh lý, sinh hoá máu là một việc làm vô cùng quan trọng và rất cần thiết để đánh giá những rối loạn chức năng của cơ thể.
1.2. Chức năng của máu
Máu có rất nhiều chức năng quan trọng, gồm những chức năng cơ bản sau:
Chức năng dinh dưỡng: Máu vận chuyển các chất dinh dưỡng sau khi chúng được biến đổi ở hệ tiêu hoá và được hấp thu từ nhung mao ruột, cũng như oxy từ phổi đưa đến cung cấp cho các tế bào của toàn cơ thể.
Chức năng hô hấp: Máu mang oxy từ phổi tới tế bào và mô, đồng thời mang carbonic từ tế bào và mô tới phổi để đào thải ra ngoài.
Chức năng bảo vệ: Máu chứa các tế bào bạch cầu và các chất kháng thể có khả năng bảo vệ cơ thể khỏi bị nhiễm trùng nhờ cơ chế thực bào, ẩm bào và cơ chế miễn dịch dịch tế thể, miễn dịch tế bào. Máu cũng có khả năng tham gia vào cơ chế tự cầm máu, tránh mất máu cho cơ thể khi bị tổn thương mạch máu có chảy máu.
Chức năng đào thải: Máu mang các sản phẩm chuyển hoá, chất độc, chất lạ tạo ra từ các mô hoặc từ ngoài đưa vào tới các cơ quan bài tiết (thận, bộ máy tiêu hoá, phổi, da) để thải ra ngoài.
Chức năng điều hoà thân nhiệt: Máu mang nhiệt ở phần "lõi" của cơ thể ra ngoài để thải vào môi trường hoặc giữ nhiệt cho cơ thể nhờ cơ chế co mạch da.
Chức năng điều hoà các hoạt động của cơ thể: Máu chứa nhiều chất hoá học như các hormon, các enzym, các yếu tố vi lượng v.v... có vai trò điều hoà chuyển hoá và hoạt động của các cơ quan trong cơ thể.
2. HỒNG CẦU (ERYTHROCYTES)
2.1. Hình dáng, kích thước, số lượng
Hồng cầu trưởng thành, lưu thông trong máu người là tế bào không có nhân. Ở điều kiện tự nhiên, nó có hình đĩa lõm hai mặt, đường kính khoảng 7,2µm, bề dày ở ngoại vi là 2,2µm, ở trung tâm là 1µm (hình 2.1).
Nhờ hình dáng như vậy, diện tích hồng cầu tăng lên rất lớn. Diện tích toàn bộ màng hồng cầu trong cơ thể có thể đạt đến 3000m². Thể tích một hồng cầu là 83µm³ (83 femtolit). Hai thành phần quan trọng nhất của hồng cầu được nghiên cứu nhiều đó là màng hồng cầu và hemoglobin. Màng hồng cầu mang các kháng nguyên nhóm máu.
Hemoglobin là thành phần quan trọng trong vận chuyển khí của máu.
Tỷ lệ các thành phần của hồng cầu như sau:
| Các thành phần | Tỷ lệ % |
|---|---|
| Nước | 67,00 |
| Hemoglobin | 28,00 |
| Lipid các loại (lecithin, cholesterol) | 0,30 |
| Những chất khác có chứa nitơ (enzym, protein, glutathion) | 2,00 |
| Urê | 0,02 |
| Các chất vô cơ (K⁺) | 1,20 |
Ở người trưởng thành, trong máu ngoại vi có 3,8 x 10¹² hồng cầu/lít (đối với nữ), và 4,2 x10¹² hồng cầu/lít (đối với nam). Ở trẻ mới sinh, trong ngày đầu số lượng hồng cầu rất cao (6,0 x10¹² hồng cầu/lít). Sau đó, do hiện tượng tan máu sinh lý, số lượng hồng cầu giảm dần. Trẻ em dưới 15 tuổi có số lượng hồng cầu thấp hơn người trưởng thành 0,1 - 0,2 x 10¹² hồng cầu/lít. Số lượng hồng cầu ổn định ở tuổi trưởng thành.
Số lượng hồng cầu tăng lên sau bữa ăn, khi lao động thể lực, sống ở trên núi cao 700 - 1000m, khi ra nhiều mồ hôi, đái nhiều, òa chảy, bỏng mất huyết tương, trong bệnh đa hồng cầu, bệnh tim bẩm sinh.... Số lượng hồng cầu giảm lúc ngủ, khi uống nhiều nước, cuối kỳ hành kinh, sau đẻ, đói lâu ngày, ở nơi có phân áp oxy cao, khi bị các loại bệnh thiếu máu, suy tủy, nhiễm độc, chảy máu trong, chảy máu do vết thương...
2.2. Quá trình sinh hồng cầu
Trong những tuần đầu của thai nhi, hồng cầu có nhân được lá thai giữa sản xuất. Từ tháng thứ hai trở đi gan, lách, sau đó là hạch bạch huyết cũng sản xuất ra hồng cầu có nhân. Từ tháng thứ 5 của thai kỳ, tủy xương bắt đầu sản xuất hồng cầu và từ sau khi đứa trẻ ra đời tủy xương là nơi duy nhất sinh ra hồng cầu. Sau tuổi 20 các tủy xương dài bị mỡ hoá, còn tủy xương xốp như xương sống, xương sườn, xương ức, xương chậu sản xuất hồng cầu. Vì vậy người già dễ bị thiếu máu.
Tế bào tạo máu trong tủy xương là tế bào gốc vạn năng, có khả năng phát triển thành tế bào gốc biệt hoá để tạo ra các dòng khác nhau của tế bào máu. Tế bào gốc biệt hóa sinh ra hồng cầu được gọi là đơn vị tạo cụm của dòng hồng cầu: C.F.U.E (Colony forming unit erythrocyt). Sau đó các tế bào dòng hồng cầu phát triển qua 5 giai đoạn tạo thành hồng cầu lưới; cuối cùng tạo thành hồng cầu trưởng thành (không có nhân) (hình 2.2).
Nhân của nguyên hồng cầu mất đi khi nồng độ hemoglobin trong bào tương cao hơn 34%. Hồng cầu chính thức không có nhân, xuyên mạch rồi tủy xương vào hệ tuần hoàn chung. Hồng cầu lưới cũng có khả năng vào máu như hồng cầu trưởng thành nhưng tỷ lệ rất thấp, chỉ chiếm 1% tổng số hồng cầu ở máu ngoại vi. Khoảng 1-2 ngày sau hồng cầu lưới trở thành hồng cầu trưởng thành và sống trong máu khoảng 120 ngày.
Trong quá trình sống, hệ thống enzym trong hồng cầu giảm dần, hồng cầu già cỗi, màng hồng cầu kém bền và dễ vỡ. Một phần hồng cầu tự huỷ trong máu, còn đại bộ phận hồng cầu bị huỷ trong tổ chức võng nội mô của lách, gan, tủy xương.
Để tạo thành hồng cầu, trong cơ thể có hai quá trình song song: sự tạo thành tế bào hồng cầu và sự tổng hợp hemoglobin. Đây là những quá trình rất phức tạp, đòi hỏi nhiều nguyên liệu như protein, cholin, thymidin, acid nicotinic, thiamin, pyridoxin, acid folic, vitamin B12, Fe++, nhiều enzym và chất xúc tác cho quá trình tổng hợp này.
Quá trình sinh hồng cầu có sự điều hoà để duy trì số lượng hồng cầu ở máu ngoại vi ở mức ổn định nhằm cung cấp đủ oxy cho tế bào hoạt động. Sự tăng trưởng và sinh sản của các tế bào gốc theo hướng dòng hồng cầu được kiểm soát chủ yếu bởi yếu tố kích thích tạo hồng cầu là erythropoietin do thận và gan tạo ra.
Bệnh nhân bị thiếu máu do mất máu, bị giảm chức năng tủy xương do bị chiếu xạ, những người sống ở vùng núi cao có nồng độ oxy trong không khí thấp hơn bình thường, bệnh nhân bị suy tim, các bệnh về phổi có giảm trao đổi khí ở phổi v.v..., đều gây thiếu oxy. Sự thiếu oxy kích thích thận và gan sản xuất ra erythropoietin. Erythropoietin có tác dụng kích thích quá trình chuyển C.F.U.E thành tiền nguyên hồng cầu và kích thích chuyển nhanh các hồng cầu non thành hồng cầu trưởng thành.
Các hormon sinh dục nam, hormon tuyến giáp, hormone vỏ thượng thận, hormon sinh dục nữ cũng có vai trò kích thích sinh hồng cầu.
2.3. Hemoglobin
2.3.1. Cấu trúc của hemoglobin
Hemoglobin (Hb) là một protein màu, phức tạp thuộc nhóm chromoprotein màu đỏ, có nhóm ngoại là hem. Hb là thành phần chủ yếu của hồng cầu, chiếm 28% và tương ứng với 14,6g trong 100 ml máu, trọng lượng phân tử của Hb là 64.458.
Hb gồm 2 phần: hem (chiếm 4%) và globin (chiếm 96%). Mỗi phân tử Hb có 4 hem và 1 globin (gồm 4 chuỗi polypeptid), tạo thành từ 4 dưới đơn vị. Mỗi dưới đơn vị là 1 hem kết hợp với 1 chuỗi polypeptid.
Hb của các loài động vật khác nhau có phần hem giống nhau, chỉ khác nhau ở phần globin. Ở người lớn, 4 chuỗi polypeptid của globin giống nhau từng đôi một: 2 chuỗi α và 2 chuỗi β, chúng liên kết với nhau tạo nên cấu trúc bậc 4 của phân tử Hb. Hem ở người là protoporphyrin IX kết hợp với Fe++ (hình 2.3).
Hem kết hợp với chuỗi polypeptid (của globin) thành chuỗi hemoglobin (α hoặc β).
Hai chuỗi α kết hợp với hai chuỗi β tạo thành hemoglobin A.
Hb của thai nhi là HbF, globin của nó gồm hai chuỗi α và hai chuỗi γ. Hemoglobin của người thuộc các chủng tộc khác nhau có khác nhau ở phần cấu tạo globin.
Bình thường người Việt có 14,6g Hb (đối với nam) và 13,3g Hb (đối với nữ) trong 100ml máu. Đếm số lượng hồng cầu và định lượng Hb là những xét nghiệm quan trọng trong đánh giá tính chất của thiếu máu.
2.3.2. Chức năng của hemoglobin
- Hemoglobin kết hợp với oxy tạo thành oxyhemoglobin (HbO₂). Khả năng kết hợp lỏng lẻo và thuận nghịch tạo điều kiện cho Hb nhận oxy ở phổi rồi vận chuyển đến mô giải phóng oxy cho tế bào. Oxy kết hợp với Hb ở phần Fe++ của hem. Hb + O₂ ⇌ HbO₂
Khi Fe++ của hem thành Fe+++ tạo nên methemoglobin (MetHb), chất này không có khả năng kết hợp với oxy nữa. Sự kết hợp và phân ly HbO₂ chịu ảnh hưởng của pO₂, pCO₂, pH, nhiệt độ máu.
Hemoglobin kết hợp với carbonic tạo thành carbohemoglobin (HbCO₂). Đây cũng là một phản ứng thuận nghịch: Hb + CO₂ ⇌ HbCO₂. Sự kết hợp xảy ra ở mô, sự phân ly xảy ra ở phổi. Carbonic kết hợp với Hb ở nhóm amin của globin nên gọi là phản ứng carbamin. Carbonic được vận chuyển ở dạng HbCO₂ không nhiều, chỉ chiếm 6,5% tổng số CO₂ vận chuyển trong máu.
Hemoglobin kết hợp với carbonmonocid (CO) tạo thành carboxyhemoglobin (HbCO). HbCO rất bền vững và không còn khả năng vận chuyển oxy, vì ái lực của Hb với CO cao gấp 210 lần ái lực của Hb với O₂, thậm chí CO còn đẩy được O₂ ra khỏi HbO₂. Khi ngộ độc CO có thể làm người ta chết (gọi là chết đuối trên cạn), cần cho thở O₂ phân áp cao để tái tạo lại oxyhemoglobin.
Hemoglobin có tính chất đệm: Hệ đệm hemoglobinat là một trong các hệ đệm quan trọng của máu, đó là hệ đệm HHb/KHb và HHbCO₂/KHbO₂.
Trong quá trình chuyển hoá Hb tạo ra sắc tố mật (bilirubin).
2.4. Chức năng của hồng cầu Chức năng vận chuyển khí oxy và carbonic: Hồng cầu vận chuyển khí oxy từ phổi tới mô và vận chuyển CO2 từ mô về phổi nhờ vai trò của Hb. Mặt khác, hồng cầu còn đóng vai trò quan trọng bậc nhất trong sự vận chuyển CO2 ở dạng HCO3- của huyết tương. Chức năng điều hoà cân bằng acid - base của máu: Chức năng này do hệ đệm hemoglobinat đảm nhiệm. Đồng thời với hệ đệm của Hb, hồng cầu còn tạo ra HCO3- trong quá trình vận chuyển CO2, nên nó đã tạo ra hệ đệm bicarbonat HCO3-/H2CO3, hệ đệm quan trọng nhất của máu. Chức năng tạo độ nhớt của máu: Hồng cầu là thành phần chủ yếu tạo độ nhớt của máu, nhờ độ nhớt mà tốc độ tuần hoàn, nhất là tuần hoàn mao mạch ổn định. Tốc độ tuần hoàn ổn định là điều kiện thuận lợi cho sự trao đổi vật chất giữa tế bào và máu. Khi độ nhớt của máu thay đổi sẽ gây ra thay đổi tốc độ tuần hoàn và làm rối loạn trao đổi chất của tế bào.
3. NHÓM MÁU VÀ TRUYỀN MÁU
3.1. Nhóm máu Khối lượng và chất lượng máu của cơ thể là chỉ số sinh lý cần được duy trì ổn định. Khi bị mất máu cấp hoặc một số trường hợp bị bệnh máu, người ta phải truyền máu để cấp cứu và điều trị. Khi truyền máu không đúng nguyên tắc sẽ gây vỡ hồng cầu hoặc hồng cầu bị ngưng kết gây tắc mạch, dẫn đến nhiều tai biến rất nguy hiểm. Người ta đã tìm thấy trên bề mặt hồng cầu người có khoảng 30 kháng nguyên thường gặp, tạo thành nhiều hệ thống nhóm máu. Trong số này có hai hệ thống đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong truyền máu đó là hệ thống nhóm máu ABO và Rh. Còn các hệ thống nhóm máu khác như kháng nguyên Lewis, MNSs, P, Kell, Duffy, Kidd... đều là kháng nguyên có tính miễn dịch yếu, thường dùng trong nghiên cứu gen và pháp y. Dưới đây chỉ trình bày về hệ thống nhóm máu ABO và hệ Rh.
3.1.1. Hệ thống nhóm máu ABO Năm 1901, Landsteiner phát hiện ra rằng khi trộn máu của hai người với nhau từng đôi một có hai hiện tượng xảy ra: hai giọt máu hoà đều với nhau, hoặc có hiện tượng ngưng kết hồng cầu (tức hồng cầu bị nhăn nheo và dính lại với nhau). Sau đó người ta đã tìm được kháng nguyên A và kháng nguyên B; kháng thể α (chống A) và kháng thể β (chống B).
Kháng nguyên A và B có mặt trên màng hồng cầu có tính bẩm sinh, di truyền. Kháng thể α và β có mặt trong huyết tương, chúng được sinh ra một cách tự nhiên từ khi đứa bé ra đời. Kháng thể α sẽ làm ngưng kết hồng cầu mang kháng nguyên A, kháng thể β sẽ làm ngưng kết hồng cầu mang kháng nguyên B.
Do cơ thể có trạng thái dung nạp với kháng nguyên bản thân, nên trong huyết tương không bao giờ có kháng thể chống lại kháng nguyên có trên bề mặt hồng cầu của chính cơ thể mình. Từ đó hệ thống nhóm máu ABO được chia làm 4 nhóm: nhóm A, nhóm B, nhóm AB và nhóm O. Ký hiệu nhóm máu biểu thị sự có mặt của kháng nguyên trên bề mặt hồng cầu.
Sự phân bố các kháng nguyên, kháng thể ở các nhóm máu thuộc hệ thống nhóm máu ABO được trình bày ở bảng 2.1.
Bảng 2.1. Các nhóm máu thuộc hệ ABO
| Nhóm máu | Kháng nguyên | Kháng thể | Tỷ lệ % |
|---|---|---|---|
| Người da trắng | Người Việt | |||
| O | Không có | α và β | 47 | 43,0 |
| A | A | β | 41 | 21,5 |
| B | B | α | 9 | 29,5 |
| AB | A và B | Không có | 3 | 6,0 |
Ngay sau khi ra đời, kháng thể có nồng độ rất thấp. Từ tháng thứ 2 trở đi, kháng thể tăng dần lên và cao nhất từ 8 -10 tuổi, sau đó duy trì ở mức bình thường và giảm dần theo tuổi.
Dựa vào kháng thể đã biết của huyết thanh mẫu (antiA, antiB, antiAB) người ta xác định chính xác kháng nguyên A và B trên bề mặt hồng cầu.
3.1.2. Hệ thống nhóm máu Rh
Năm 1940 Landsteiner và Wiener nhận thấy: nếu lấy hồng cầu khỉ Macacus Rhesus gây miễn dịch cho thỏ, thì huyết thanh miễn dịch thỏ ngoài việc gây ngưng kết hồng cầu khỉ còn gây ngưng kết hồng cầu người. Lúc đầu các ông xếp những người có hồng cầu bị ngưng kết bởi huyết thanh này vào nhóm Rh+, những người có hồng cầu không bị ngưng kết vào nhóm Rh-. Nhưng sau này người ta thấy hệ thống kháng nguyên Rh phức tạp hơn.
Có 3 loại kháng nguyên chính: kháng nguyên D (Rh0), kháng nguyên C (Rho'), kháng nguyên E (Rh"). Chỉ có kháng nguyên D có tính kháng nguyên mạnh và có tính sinh miễn dịch cao. Vì vậy người có kháng nguyên D được gọi là người có máu nhóm Rh+. Những người có các kháng nguyên khác thuộc nhóm máu Rh-. Tỷ lệ Rh+ của người da trắng là 85%, người Mỹ da đen là 95%, người Phi da đen là 100%, người Việt là 99,92%. Nói một cách khác là tỷ lệ Rh- của người Việt là không đáng kể, chỉ có 0,08%.
Kháng nguyên hệ thống nhóm máu Rh là di truyền, còn kháng thể chống Rh chỉ xuất hiện ở cơ thể Rh- khi được truyền máu Rh+ (máu có kháng nguyên D). Sau khi truyền máu Rh+ từ 2-4 tuần, lượng kháng thể chống Rh được sinh ra tương đối cao đủ để gây ngưng kết hồng cầu Rh+ của người cho vẫn tồn tại trong máu người nhận. Phản ứng này chậm và rất nhẹ. Sau 2-4 tháng truyền máu Rh+, nồng độ kháng thể chống Rh trong máu người Rh+ mới đạt tối đa. Nếu truyền máu Rh+ cho những người này ở lần thứ 2, có thể gây ra tai biến truyền máu nặng.
Trường hợp thứ hai là người mẹ Rh-, bố Rh+, đứa trẻ được di truyền Rh+ từ bố. Hồng cầu Rh+ của thai và sản phẩm phân hủy hồng cầu Rh+ của thai sang máu mẹ. Cơ thể người mẹ sẽ tạo kháng thể chống Rh, các kháng thể này qua nhau thai làm ngưng kết hồng cầu thai gây nguy hiểm cho thai nhi. Tùy mức độ tổn thương hồng cầu, có thể người mẹ bị sảy thai, thai chết lưu, hoặc đẻ non, để con bị vàng da tan máu. Trẻ thường chết do thiếu máu nặng. Do đó những người phụ nữ có tiền sử sảy thai, đẻ non, để con có tăng nguyên hồng cầu bào thai, vàng da tan máu phải xét nghiệm nhóm máu Rh.
3.2. Truyền máu
Trong thực hành truyền máu, ngoài những quy định về xét nghiệm phát hiện các mầm bệnh lây theo đường máu, về kỹ thuật bảo quản..., người ta còn đưa ra hai quy tắc để đảm bảo an toàn truyền máu.
Quy tắc cơ bản: không để kháng nguyên và kháng thể tương ứng gặp nhau trong máu người nhận.
Đối với hệ thống nhóm máu ABO, thoả mãn quy tắc trên là phải truyền cùng nhóm máu. Đồng thời với việc xác định nhóm máu thuộc hệ ABO, cần phải làm các phản ứng chéo: trộn hồng cầu người cho với huyết tương máu người nhận và ngược lại trộn hồng cầu người nhận với huyết tương máu người cho. Các phản ứng trên không có hiện tượng ngưng kết hồng cầu thì máu đó mới được truyền.
Quy tắc tối thiểu: Trong trường hợp cần phải truyền máu mà không có máu cùng nhóm, người ta có thể truyền máu khác nhóm sao cho: không để xảy ra ngưng kết hồng cầu của người cho trong máu của người nhận.
Truyền máu khác nhóm bắt buộc phải theo sơ đồ ở bên: Nhóm O truyền được cho nhóm A, nhóm B và nhóm AB. Nhóm A và B truyền được cho nhóm AB. Nhóm AB không truyền được cho nhóm O, A và B. Trong trường hợp truyền máu khác nhóm như vậy, chỉ được truyền khoảng 250ml máu (một đơn vị máu) và với tốc độ rất chậm.
Nếu người cần được truyền máu là Rh+ thì truyền máu Rh+ hoặc Rh- đều được. Nếu người cần được truyền máu là máu Rh- thì nhất thiết phải được truyền máu là Rh-.
4. BẠCH CẦU (LEUCOCYTE)
4.1. Hình dáng và số lượng
Bạch cầu là các tế bào có nhân, hình dáng và kích thước rất khác nhau từ 5µm - 17µm, tùy từng loại. Bạch cầu không phải chỉ lưu thông trong máu, mà nó còn có mặt ở nhiều nơi trong cơ thể: bạch huyết, dịch não tủy, hạch bạch huyết, các mô liên kết...
Thành phần các chất chứa trong bạch cầu rất phức tạp, gồm nhiều chất hữu cơ và vô cơ. Bạch cầu có một hệ thống enzym rất phong phú và một số chất có khả năng diệt vi khuẩn.
Trong 1lít máu ngoại vi có trung bình 7,0 x 10⁹ bạch cầu (đối với nam), 6,2 x 10⁹ bạch cầu (đối với nữ), nhìn chung vào khoảng 5,0 x 10⁹ đến 9,0 x 10⁹ bạch cầu/lít máu (đối với người trưởng thành). Trẻ sơ sinh có số lượng bạch cầu rất cao: 20,0 x 10⁹ bạch cầu/1lít máu ngoại vi. Lúc một tuổi còn 10,0 x 10⁹ bạch cầu/1lít máu. Từ 12 tuổi trở đi số lượng bạch cầu trở về ổn định bằng người trưởng thành.
Số lượng bạch cầu tăng lên khi ăn uống, khi lao động thể lực, vào tháng cuối của thời kỳ mang thai, sau khi đẻ. Đặc biệt số lượng bạch cầu tăng lên khi nhiễm khuẩn, khi bị bệnh bạch cầu (bệnh máu trắng). Một số hormon và một số tính chất mô cũng làm tăng số lượng bạch cầu như hormon tuyến giáp, adrenalin, estrogen, tinh chất gan, tinh chất lách, tủy xương.
Số lượng bạch cầu giảm khi bị lạnh, bị đói, khi già yếu, suy nhược tủy xương, nhiễm virus, nhiễm độc, nhiễm trùng quá nặng, hoặc điều trị bằng hormon corticoid kéo dài...
4.2. Phân loại bạch cầu và đời sống bạch cầu
Dựa vào hình dáng, kích thước tế bào, hình dáng nhân, sự bắt màu của hạt trong bào tương, người ta phân loại bạch cầu thành bạch cầu hạt (bạch cầu đa nhân) và bạch cầu không hạt (bạch cầu đơn nhân). Các dòng bạch cầu đều được sinh ra từ tế bào gốc vạn năng trong tủy xương.
Bạch cầu đa nhân là bạch cầu có nhân chia 2-5 múi, bào tương có các hạt bắt màu khi nhuộm nên còn được gọi là bạch cầu hạt. Bạch cầu hạt được chia làm 3 loại: trung tính, ưa acid và ưa base.
Bạch cầu đơn nhân là bạch cầu nhân không chia múi và bào tương không có hạt bắt màu khi nhuộm theo phương pháp thông thường, nên còn được gọi là bạch cầu không hạt. Bạch cầu không hạt được chia làm 2 loại: monocyt và lymphocyt. Ở người bình thường, tỷ lệ các loại bạch cầu trong máu ngoại vi như sau:
Bạch cầu hạt trung tính (N): 62,0% Bạch cầu hạt ưa acid (E): 2,3% Bạch cầu hạt ưa base (B): 0,4% Bạch cầu monocyt (M) : 5,3% Bạch cầu lymphocyt (L): 30,0%
Các nhà lâm sàng thường gọi tỷ lệ % các loại bạch cầu ở máu ngoại vi là công thức bạch cầu phổ thông. Công thức bạch cầu thay đổi khi ăn uống, khi lao động, khi có kinh nguyệt, khi có thai trên 4 tháng, khi đẻ. Trẻ sơ sinh có tới 70% là bạch cầu đa nhân, từ tháng thứ 3 trở đi chỉ còn 35% là các bạch cầu đa nhân (lúc này chủ yếu là lympho bào). Công thức bạch cầu dần ổn định, đến sau tuổi dậy thì mới tương đương ở người trưởng thành. Việc xác định công thức bạch cầu phổ thông và số lượng bạch cầu là xét nghiệm thường quy với mỗi bệnh nhân khi vào viện.
Người ta chưa biết chính xác thời gian sống của bạch cầu trong máu là bao lâu, vì bạch cầu có mặt ở khắp mọi nơi trong cơ thể. Bạch cầu từ máu vào các mô rồi lại từ các mô quay trở lại máu. Bạch cầu sống trong máu khoảng 4-5 ngày. Thời gian bạch cầu sống cả trong và ngoài mạch máu khoảng 8-12 ngày. Thời gian bạch cầu tồn tại trong tủy xương khoảng 4-8 giờ.
Bạch cầu bị tiêu diệt ở khắp mọi nơi trong cơ thể khi già cỗi, nhưng chủ yếu là trong lòng ống tiêu hoá, phổi và láách. Bạch cầu (đặc biệt là các đại thực bào, bạch cầu hạt trung tính) bị tiêu diệt ở các ổ viêm, các vùng và các diện của cơ thể để bị vi khuẩn đột nhập như da, phổi, niêm mạc.
4.3. Chức năng của bạch cầu Chức năng của bạch cầu là bảo vệ cơ thể bằng hai cách: thực bào và miễn dịch.
4.3.1. Bạch cầu bảo vệ cơ thể bằng thực bào Thực bào vừa là đặc tính, vừa là chức năng quan trọng nhất của bạch cầu monocyt và bạch cầu N. Khi có vi khuẩn hay vật lạ xâm nhập vào cơ thể, nhờ có khả năng chuyển động kiểu amip và xuyên mạch, bạch cầu M và N được huy động vào trong máu, rồi di chuyển đến vùng bị viêm nhiễm. Bạch cầu tiếp cận vật lạ, phóng chân giả bao vây vật lạ, tạo thành một túi kín chứa vật lạ rồi đưa vào trong tế bào, đó là túi thực bào trôi tự do trong bào tương. Túi thực bào tiếp cận với lysosom và các hạt khác trong bào tương, rồi hoà màng. Các enzym tiêu hoá và các tác nhân giết vi khuẩn được trút từ túi lysosom vào túi thực bào để xử lý vật lạ. Sau khi tiêu hoá, các sản phẩm cần thiết cho tế bào được giữ lại, các sản phẩm không cần thiết sẽ được đào thải ra khỏi tế bào bằng quá trình xuất bào.
Một bạch cầu hạt trung tính có thể thực bào 5-25 vi khuẩn và sau đó thì chết. Đại thực bào có khả năng thực bào mạnh hơn, nó có thể thực bào tới 100 vi khuẩn.
Ngoài ra, bạch cầu hạt ưa acid có vai trò chống dị ứng và diệt ký sinh trùng, bạch cầu hạt kiềm có vai trò chống dị ứng và chống độc cho cơ thể.
4.3.2. Chức năng của bạch cầu lympho Bạch cầu lympho có kích thước 5-13µm, nhân tròn hoặc hình hạt đậu chiếm gần hết phần nội bào, bắt màu đậm. Bào tương rất ít, tạo thành lớp mỏng bao quanh nhân. Bạch cầu lympho chia thành hai loại: lympho bào B trưởng thành ở tủy xương và gan, lympho bào T trưởng thành ở tuyến ức. Các tế bào lympho có chung nguồn gốc là các tế bào gốc vạn năng. Sau khi được “xử lý”, các lympho bào lưu thông trong máu, rồi dự trữ ở mô bạch huyết, rồi lại vào máu khi cần thiết.
Chức năng chính của lympho bào là tạo ra sự miễn dịch để bảo vệ cơ thể; trong đó lympho bào B sản xuất ra kháng thể đảm bảo miễn dịch dịch thể, lympho bào T chịu trách nhiệm về miễn dịch tế bào.
5. TIẾU CẦU (TROMBOCYTES) Tiểu cầu là một phần bào tương của tế bào nhân khổng lồ, là một tế bào không hoàn chỉnh, không có nhân, rất đa dạng, bào tương tím nhạt có hạt màu xanh, rất khó đếm vì dễ vỡ khi lấy ra khỏi cơ thể.
Tiểu cầu có kích thước 2-4μm, thể tích 7-8μm³. Bình thường có $150\text{-}300 \times 10^9$ tiểu cầu trong 1 lít máu ngoại vi.
Màng tiểu cầu rất dễ dính vào các vật lạ và khi đó chúng có thể tự bám vào nhau thành từng đám. Tiểu cầu chứa actomyosin, thrombosthenin nên tiểu cầu có khả năng co rút. Tiểu cầu chứa rất nhiều yếu tố có vai trò quan trọng trong quá trình cầm máu. Khi tiểu cầu co rút mạnh nó sẽ bị vỡ ra và giải phóng serotonin gây co mạch, cùng các phospholipid và các yếu tố gây đông máu tham gia vào quá trình đông máu.
Tiểu cầu bị tiêu diệt ở lách. Đời sống tiểu cầu chưa được nghiên cứu đầy đủ, người ta cho rằng chúng sống ở trong máu khoảng 9-11 ngày. Số lượng tiểu cầu bị thay đổi trong một số trường hợp bệnh lý. Khi số lượng tiểu cầu tăng dễ gây tình trạng đông máu rải rác nội mạch; số lượng tiểu cầu giảm dễ gây xuất huyết dưới da, niêm mạc và nội tạng.
6. CẦM MÁU VÀ ĐÔNG MÁU
6.1. Cầm máu
Cầm máu là một quá trình sinh lý, hóa sinh tổng hợp nhằm chấm dứt hoặc ngăn cản sự mất máu của cơ thể khi mạch máu bị tổn thương. Cầm máu được thực hiện nhờ các cơ chế: co mạch, hình thành nút tiểu cầu, đông máu, cục máu, tan cục máu đông và phát triển mô xơ trong cục máu đông để bịt kín vết thương.
6.1.1. Co mạch: Ngay sau khi thành mạch bị tổn thương, mạch máu co lại do tính đàn hồi của thành mạch và nhờ cơ chế thần kinh và thần kinh-thể dịch.
6.1.2. Sự hình thành nút tiểu cầu Tại nơi thành mạch bị tổn thương, tiểu cầu bám vào tế bào nội mạc hoặc các sợi collagen ở thành mạch và được hoạt hoá. Khi đó các protein trong tiểu cầu co rút mạnh và giải phóng ra các yếu tố làm hoạt hoá các tiểu cầu bên cạnh. Các tiểu cầu dính vào nhau tạo nên nút tiểu cầu (gọi là nút máu trắng) bịt kín chỗ tổn thương (nếu là các tổn thương nhỏ). Nhờ có chức năng này mà cơ thể tránh được sự chảy máu mao mạch diễn ra hàng ngày.
6.1.3. Sự hình thành cục máu đông Bình thường máu chảy trong mạch máu không bị đông. Khi tổn thương thành mạch, máu chảy ra ngoài mạch máu hoặc lấy máu ra khỏi cơ thể thì máu sẽ đông lại.
Có hiện tượng trên là do trong máu có các chất kích thích quá trình gây đông máu gọi là các chất gây đông máu. Đồng thời lại có các chất ức chế quá trình gây đông máu gọi là các chất chống đông máu. Bình thường máu trong cơ thể không đông là do các chất chống đông máu chiếm ưu thế. Khi máu hoặc mạch máu bị tổn thương, khi máu lấy ra ngoài cơ thể, các chất gây đông máu được hoạt hoá và trở nên ưu thế, sẽ diễn ra quá trình đông máu.
6.2. Đông máu
6.2.1. Định nghĩa đông máu
Đông máu là một quá trình chuyển máu ở thể lỏng sang thể đặc, mà thực chất là chuyển fibrinogen ở dạng hoà tan thành fibrin ở dạng không hoà tan và tạo thành mạng lưới fibrin bọc giữ trong nó tất cả các thành phần của máu.
6.2.2. Cơ chế đông máu (các giai đoạn của quá trình đông máu)
Ngày nay người ta xác định có 14 yếu tố đông máu, gồm 12 yếu tố được đánh số La Mã từ I đến XIII (không có yếu tố VI) và hai yếu tố khác. Hầu hết các yếu tố này là các enzym ở dạng không hoạt động. Khi chuyển thành hoạt động, chúng gây ra các phản ứng hoá sinh kế tiếp nhau gây ra sự đông máu.
Thông thường người ta chia quá trình đông máu làm ba giai đoạn: - Giai đoạn hình thành phức hợp prothrombinase. - Giai đoạn hình thành thrombin. - Giai đoạn hình thành fibrin.
Sự hình thành phức hợp prothrombinase.
Khởi động cho cơ chế đông máu là sự hình thành phức hợp prothrombinase. Đây là một cơ chế rất phức tạp và kéo dài nhất của quá trình đông máu. Quá trình được xảy ra khi có chấn thương thành mạch và mô, chấn thương máu, chấn thương tế bào nội mạc mạch máu...
Sự hình thành phức hợp prothrombinase diễn ra theo hai cơ chế: ngoại sinh và nội sinh.
Sự hình thành phức hợp prothrombinase theo cơ chế ngoại sinh.
Khi mô bị tổn thương giải phóng yếu tố III và phospholipid từ màng tế bào mô. Yếu tố III hoạt hoá yếu tố VII thành yếu tố VIIa. Yếu tố III cùng yếu tố VIIa, ion Ca++ và phospholipid làm hoạt hoá yếu tố X. Yếu tố Xa với sự tham gia của yếu tố Va (yếu tố V được hoạt hoá nhờ thrombin), ion Ca++ và phospholipid hình thành phức hợp prothrombinase. Sơ đồ hình thành phức hợp prothrombinase theo cơ chế ngoại sinh được trình bày trên hình 2.4.
Sự hình thành phức hợp prothrombinase theo cơ chế nội sinh.
Máu bị tổn thương, máu tiếp xúc với collagen hoặc bề mặt vật lạ thì làm hoạt hoá yếu tố XII thành XIIa và giải phóng phospholipid tiểu cầu. Yếu tố XIIa chuyển yếu tố XI thành yếu tố XIa. Yếu tố XIa chuyển yếu tố IX thành yếu tố IXa (có sự tham gia của yếu tố tiểu cầu). Yếu tố X được hoạt hoá có sự tham gia của yếu tố VIIIa (yếu tố VIII được hoạt hóa nhờ thrombin), yếu tố IXa, ion Ca++ và phospholipid. Yếu tố Xa với sự tham gia của phospholipid, yếu tố Va (yếu tố V được hoạt hoá nhờ thrombin) và ion Ca++ hình thành phức hợp prothrombinase. Sơ đồ cơ chế nội sinh hình thành phức hợp prothrombinase được trình bày trên hình 2.5.
Prothrombinase được hình thành từ cơ chế nội sinh hoặc ngoại sinh, hoặc đồng thời từ cả hai cơ chế nội sinh và ngoại sinh. Thời gian hình thành phức hợp prothrombinase theo cơ chế nội sinh chậm hơn rất nhiều (1-6 phút) so với cơ chế ngoại sinh (15 giây).
Sự hình thành thrombin
Khi phức hợp prothrombinase hình thành với sự có mặt của ion Ca++ nó sẽ chuyển prothrombin thành thrombin trong vài giây.
Sự hình thành fibrin
Thrombin ngay sau khi hình thành sẽ chuyển fibrinogen thành fibrin đơn phân. Các fibrin đơn phân tự trùng hợp thành fibrin ở dạng sợi tạo thành mạng lưới fibrin và giữ lại trên nó các tế bào máu tạo nên cục máu đông và được ổn định nhờ yếu tố XIII. Giai đoạn này cũng có sự tham gia của ion Ca++.
6.2.3. Sự co và tan cục máu đông Sau 20-30 phút cục máu đông được hình thành, nó bắt đầu co lại và rỉ ra huyết thanh. Cục máu đông lúc này rất bền vững, giữ cho các mép của thành mạch tổn thương khép lại gần nhau tạo điều kiện thuận lợi cho liền vết thương.
Khoảng sau 24 giờ từ khi cục máu đông được hình thành, cục máu đông sẽ bị tan do chất tiêu fibrin (plasmin) được hoạt hoá.
6.2.4. Sự chống đông máu trong cơ thể Trong cơ thể máu không đông do nhiều lý do:
- Bề mặt tế bào nội mạc của thành mạch trơn nhẵn có tác dụng đẩy tiểu cầu và các yếu tố gây đông máu, ngăn cản được sự hoạt hoá hệ thống gây đông máu.
- Thrombomodulin là một protein của nội mạc có khả năng gắn với thrombin làm bất hoạt thrombin, do đó ngăn cản sự tạo các sợi fibrin.
- Trong huyết tương có nhiều yếu tố ngăn chặn sự hoạt hoá và hoạt động của các yếu tố đông máu, như antithrombin, heparin, β2 - macroglobulin, coumarin,..
7. THÀNH PHẦN VÀ TÍNH CHẤT HUYẾT TƯƠNG Huyết tương là phần lỏng của máu, chiếm 55-56% thể tích máu toàn phân. Huyết tương là dịch trong, hơi vàng, sau khi ăn có màu sữa, vị hơi mặn và có mùi đặc biệt của các acid béo.
Huyết tương chứa 92% là nước, còn lại là các chất hữu cơ và các chất vô cơ. Huyết tương bị lấy mất fibrinogen thì gọi là huyết thanh.
7.1. Một số chỉ số vật lý của máu
Độ nhớt của huyết tương: 2,0 - 2,5 Độ nhớt của máu toàn phần: 4,7 (đối với nam); 4,4 (đối với nữ) Tỷ trọng của huyết tương: 1,028 Tỷ trọng của huyết cầu: 1,097 Tỷ trọng của máu toàn phần: 1,057 Áp suất thẩm thấu của máu: 7,6 atm (hay 300 mOsmol) pH của máu: 7,36 - 7,42.
7.2. Các chất hữu cơ của huyết tương
Các chất hữu cơ của huyết tương có hai loại: protein và các chất không phải protein. - Protein huyết tương là những phân tử lớn, có trọng lượng phân tử cao, ví dụ trọng lượng phân tử của albumin: 69.000, của fibrinogen: 340.000 v.v...
Protein toàn phần của huyết tương: 68-72 g/l, đây là phần chủ yếu của những chất chứa nitơ. Thông thường protein huyết tương có các thành phần cơ bản sau đây:
| Albumin | 42g/l | | Globulin | 24g/l (chia ra các loại α1, α2, β và γ-globulin) | | Tỷ lệ albumin/globulin | 1,7. | | Fibrinogen | 4g/l. |
Protein huyết tương có các chức năng chính sau: + Chức năng tạo áp suất keo của máu: có vai trò giữ nước trong lòng mạch máu. + Chức năng vận chuyển: các protein thường là các chất tải cho nhiều chất hữu cơ và vô cơ. + Chức năng bảo vệ do vai trò của các globulin miễn dịch. + Chức năng cầm máu: các yếu tố gây đông máu của huyết tương, chủ yếu là các protein do gan sản xuất.
- Cung cấp protein cho tế bào toàn bộ cơ thể.
- Các chất hữu cơ không phải protein. Nhóm này rất đa dạng và thường được chia làm hai loại: những chất có chứa nitơ và các chất không chứa nitơ. Những chất hữu cơ không phải protein, có chứa nitơ: urê, acid amin tự do, acid uric, creatin, creatinin, bilirubin, ammoniac.
Các chất hữu cơ không phải protein, không chứa nitơ: glucose, lipid, cholesterol, phospholipid, acid lactic...
Đa số các lipid huyết tương đều gắn với protein tạo nên lipoprotein, trong đó lipid gắn với α1 globulin (25%) và với β globulin (70%).
Ngoài những chất cơ bản trên, trong huyết tương còn có những chất có hàm lượng rất thấp nhưng lại có vai trò vô cùng to lớn đối với các chức phận cơ thể như các chất trung gian hoá học, các chất trung gian chuyển hoá, các hormon, các vitamin và các enzym.
7.3. Các chất vô cơ
Các chất vô cơ thường ở dạng ion và được chia thành hai loại là anion và cation. Các chất vô cơ giữ vai trò chủ yếu trong điều hoà áp suất thẩm thấu, điều hoà pH máu và tham gia vào các chức năng của tế bào.
- Áp suất thẩm thấu: Bình thường áp suất thẩm thấu của máu là 300-310 mOsmol. Áp suất thẩm thấu chủ yếu do Na+ và Cl− quyết định (95%), ngoài ra còn có một số chất khác như HCO3−, K+, Ca++, HPO4−, glucose, protein, urê, acid uric, cholesterol, SO42−...
Áp suất thẩm thấu giữ nước ở vị trí cân bằng giữa các khu vực máu, dịch ngoại bào và nội bào. Thay đổi áp suất thẩm thấu làm thay đổi hàm lượng nước trong máu và trong tế bào và gây ra rối loạn chức năng tế bào.
- Cân bằng ion: Các ion (anion và cation) trong huyết tương luôn ở trạng thái cân bằng điện tích. Ta thường đo nồng độ ion bằng đơn vị đương lượng (Equivalent -Eq). Eq là đương lượng một ion bằng trọng lượng Mol chia cho hoá trị (Eq=1000 mEq).
Cân bằng ion có vai trò quan trọng đối với chức năng tế bào, với cân bằng acid -base máu... Nồng độ của các ion trong huyết tương như sau:
Cl−: 3650 mg/l, 103 mEq/l HCO3−: 1650 mg/l, 27 mEq/l
Protein: 70000 mg/l, 15-18 mEq/l HPO4--: 5-106 mg/l, 3 mEq/l SO4--: 45 mg/l, 1 mEq/l Acid hữu cơ: 45 mg/l, 5 mEq/l
Cộng : 155 mEq/l
Na+: 3300 mg/l, 142 mEq/l K+: 180-190 mg/l, 5 mEq/l Ca++: 100 mg/l, 5 mEq/l Mg++: 18-20 mg/l, 1,5 mEq/l Các thành phần khác: 1,5 mEq/l
Cộng : 155 mEq/l
Sự cân bằng của các ion trong huyết tương được thực hiện nhờ các cơ chế: khuếch tán, tĩnh điện, cân bằng Donnan, vận chuyển tích cực của tế bào, cơ chế siêu lọc, tái hấp thu và bài tiết tích cực của thận...
Tóm tắt:
Máu là vật chất hết sức cần thiết cho cơ thể sống, là mô đặc biệt dạng lỏng lưu thông trong hệ tuần hoàn. Ở người trưởng thành máu chiếm 7-9% trọng lượng cơ thể. Máu có nhiều chức năng quan trọng, đó là chức năng dinh dưỡng, chức năng hô hấp, chức năng bảo vệ, chức năng đào thải, chức năng điều nhiệt, chức năng điều hoà hoạt động của cơ thể.
Máu có đặc tính hằng định, nghĩa là nhiều chỉ số sinh lý, hoá sinh máu dao động trong phạm vi hẹp, đó là điều kiện quan trọng cho sự hoạt động bình thường của tế bào, của các cơ quan và của toàn cơ thể.
Máu gồm hai thành phần: thể hữu hình chiếm 43-45% (gồm hồng cầu, bạch cầu, tiểu cầu đều có nguồn gốc từ tủy xương) và huyết tương chiếm 55-57% tổng lượng máu.
- Hồng cầu ở máu ngoại vi là tế bào không có nhân, có hình đĩa lõm hai mặt, số lượng trung bình ở nam 4,2 x 10^12 HC/lít, ở nữ 3,8 x 10^12 HC/lít máu. Màng hồng cầu có kháng nguyên nhóm máu, trong hồng cầu có thành phần rất quan trọng đó là hemoglobin. Chức năng chủ yếu của hồng cầu là vận chuyển O2 và CO2, trong đó Hb là chất chính để vận chuyển O2 trong máu. Khi hàm
lượng Hb giảm dưới mức bình thường (ở nam <130g/lít, ở nữ <120g/lít, ở trẻ sơ sinh <140g/lit) là thiếu máu.
Hệ thống nhóm máu quan trọng nhất của cơ thể là hệ ABO, gồm 4 nhóm: A, B, AB và O.
Khi truyền máu phải đảm bảo an toàn, phải truyền đúng nguyên tắc, tốt nhất là truyền máu cùng nhóm máu. Khi tối cần thiết mà không có máu cùng nhóm mới truyền máu khác nhóm, nhưng phải tuân thủ ba điều kiện: truyền đúng theo sơ đồ, truyền tốc độ chậm và số lượng ít (≤ 250ml máu).
Bạch cầu là những tế bào máu có nhân, có 5 loại bạch cầu khác nhau về hình dáng, kích thước, cấu tạo và chức năng. Số lượng chung ở người bình thường có 5-8 × 10⁹ BC/lít máu. Tỷ lệ phần trăm từng loại bạch cầu trong tổng số bạch cầu chung gọi là công thức bạch cầu, nó có ý nghĩa trong chẩn đoán bệnh. Bạch cầu có vai trò chung là bảo vệ cơ thể bằng cách thực bào và đáp ứng miễn dịch.
Tiểu cầu là tế bào máu không hoàn chỉnh, thực tế đó là những mảnh bào tương tách ra từ tế bào có kích thước lớn gọi là mẫu tiểu cầu. Số lượng tiểu cầu ở người trưởng thành trung bình là 150-300 × 10⁹ TC/lít máu. Tiểu cầu có vai trò trong quá trình cầm máu, đông máu.
Cầm máu là quá trình sinh lý, hoá sinh tổng hợp nhằm chấm dứt hoặc ngăn chặn sự mất máu của cơ thể khi mạch máu bị tổn thương. Cầm máu gồm các cơ chế: co mạch, hình thành nút tiểu cầu, đông máu, co và tan cục máu đông. Trong đó, đông máu là quá trình cơ bản và phức tạp nhất để cầm máu vĩnh viễn, với sự tham gia của 12 yếu tố đông máu huyết tương. Khi giảm tiểu cầu hoặc thiếu các yếu tố đông máu sẽ bị xuất huyết hoặc máu chậm đông.
Huyết tương là phần dịch lỏng của máu, trong, màu hơi vàng, chứa 92% là nước, nhiều chất hữu cơ và vô cơ. Thành phần quan trọng thuộc các chất hữu cơ của huyết tương gồm: protein (albumin, globulin, fibrinogen...), lipoprotein, glucose, ure, creatinin, nhiều chất hormon, enzym... Các chất vô cơ quan trọng gồm: Na⁺, K⁺, Ca²⁺, Mg²⁺, Cl⁻, HCO₃⁻, HPO₄³⁻... Các muối vô cơ cùng một số chất khác (glucose, protein, ure,...) tạo nên áp suất thẩm thấu và pH máu là các chỉ số rất quan trọng của cân bằng nội môi.
