Trang chủ

Thư viện Seadrop

Sự thụ tinh sự làm tổ và sự phát triển của trứng

Posted in Sản phụ khoa by

1. ĐẠI CƯƠNG

  • Sự thụ tinh là sự kết hợp giữa một tế bào đực (tinh trùng) và một tế bào cái (noãn) để hình thành một tế bào mới là trứng.
  • Sự thụ thai là sự thụ tinh kèm theo sau đó là sự làm tổ của trứng.
  • Sau khi làm tổ trứng phát triển thành thai và các phần phụ của thai (bánh rau, màng rau, dây rau và nước ối).

2. SỰ THỤ TINH

2.1. Sự phát triển của giao tử

Giao tử là tế bào sinh dục, được biệt hóa cao, giữ một nhiệm vụ duy nhất là sinh sản và không giống với bất kỳ một tế bào nào khác. Tế bào sinh dục có kích thước khá lớn (25 - 30µm), bào tương nhạt, giàu lipid, có nhân và một thể idiosome (gồm hai trung thể và bộ máy golgi). Giao tử đực là tinh trùng mang bộ nhiễm sắc thể (NST) đơn bội. Giao tử cái là noãn cũng mang bộ NST đơn bội.

2.1.1. Sự sinh tinh

Tinh trùng được sản sinh trong ống sinh tinh. Ra khỏi ống sinh tinh, tinh trùng có hình dạng cố định nhưng chưa di động, chưa thụ tinh được, chúng chỉ có khả năng trên sau khi đi qua ống mào tinh. Tinh trùng được dự trữ tại mào tinh, ống tinh và phần lớn ở túi tinh. Sự sinh tinh được trải qua bốn giai đoạn với 5 lần phân chia (phân bào gián phân và phân bào giảm nhiễm) để từ một tinh nguyên bào ban đầu sản sinh ra 32 tinh trùng có khả năng thụ tinh. Tế bào nguyên thủy của tinh trùng là tinh nguyên bào (46 XY) sinh ra các tinh nguyên bào I (46 XY) rồi tinh nguyên bào II (23, X hoặc 23, Y) sau đó trở thành tiền tinh trùng và tinh trùng (23, X hoặc 23, Y). Quá trình này kéo dài trung bình 74 ngày (có thể dao động tới 90 ngày). Sự sinh tinh trùng là liên tục, bắt đầu từ tuổi dậy thì (số lượng khoảng 200 triệu mỗi ngày).

* Cấu trúc tinh trùng:

Tinh trùng là một tế bào đã được biệt hóa cao độ gồm có đầu, cổ, thân và đuôi. Đầu là một khối nhân (chất nhiễm sắc) có hình bầu dục. Đầu được bảo vệ 3/4 phía trước bởi một cấu trúc đặc biệt gọi là thể cực đầu. Thể cực đầu chứa nhiều loại men có ảnh hưởng lên các loại protein của vỏ noãn như Hyaluronidase, Fertilisyne. Cổ là một cấu trúc rất ngắn được gọi là bản đáy, ngay phía sau bản đáy là trung thể đóng vai trò quan trọng giúp tinh trùng di chuyển được. Tiếp sau cổ là thân tinh trùng, là nơi cung cấp năng lượng cho tinh trùng di chuyển. Đuôi nối tiếp với đầu qua trung gian đoạn cổ - thân. Đuôi gồm có đoạn trung gian, đoạn chính và đoạn cuối. Sợi trục của đuôi chạy dọc suốt từ cổ qua thân đến tận đuôi, có cấu tạo đặc biệt gồm nhiều cặp ống ngoại vi và một cặp ống trung tâm, đó là bộ máy tạo ra sự cử động của đuôi. Tinh trùng được đẩy tới bởi các đợt sóng do đuôi tạo ra.

Các đặc điểm của tinh trùng:

  • Chiều dài 65µm.
  • Số lượng 60 - 120 triệu/ml tinh dịch.
  • Tỷ lệ hoạt động lúc mới phóng tinh > 80%.
  • Tốc độ di chuyển 1,5 - 2, 5mm/ phút.
  • Thời gian sống trung bình trong đường sinh dục nữ từ 2 - 3 ngày tùy thuộc độ pH của môi trường: ở âm đạo pH toan sống được ≤ 2 giờ; ở ống cổ tử cung pH > 7,5 sống được 2 - 3 ngày; trong vòi tử cung tinh trùng sống thêm được 2 - 3 ngày.

2.1.2. Sự sinh noãn

Noãn hình thành từ các nang trứng ban đầu là các nang noãn nguyên thủy, sau phát triển thành các nang graff chứa noãn và các tế bào hạt. Phần lớn các nang trong thời kỳ bào thai và sau khi sinh đã bị thoái hóa teo đi, chỉ còn lại từ 400 đến 450 nang đạt tới mức độ trưởng thành từ sau tuổi dậy thì cho đến khi mãn kinh. Noãn nguyên bào trong nang noãn phân bào và phát triển thành noãn bào I rồi noãn bào II và cuối cùng là noãn trưởng thành. Quá trình phát triển noãn nguyên bào thành noãn bào II ở trong giai đoạn trước tuổi thành niên, noãn bào II phát triển thành nang noãn trưởng thành chỉ xảy ra trong khi phóng noãn.

Thông thường, mỗi tháng hai buồng trứng thay phiên nhau rụng một noãn. Sự rụng trứng thường xảy ra khoảng giữa ngày thứ 12 và 14 của chu kỳ kinh bình thường 28 ngày và chia chu kỳ thành hai giai đoạn: giai đoạn nang trứng (trước rụng trứng) và giai đoạn hoàng thể (sau rụng trứng). Nếu quá trình thụ tinh không xảy ra, sự thoái triển của hoàng thể dẫn đến kinh nguyệt. Giữa thời điểm cuối kỳ kinh trước và khởi đầu giai đoạn nang trứng, khoảng vài chục nang trứng đi vào giai đoạn tăng trưởng bằng cách tăng thể tích dịch nang và hốc nang lớn dần. Vào ngày thứ 6 chỉ có một nang duy nhất đạt tới tình trạng chín cần thiết: đó là nang trội, số nang còn lại bị thoái triển. Khoảng 36 giờ trước khi rụng trứng có một sự gia tăng tối đa hormon LH (Luteinizing hormone) thúc đẩy nang chín nhanh. Noãn rụng kèm theo màng trong suốt, tế bào gò noãn, tế bào vòng tia, tế bào hạt, tất cả đi vào loa vòi tử cung.

Các đặc điểm của noãn:

  • Noãn trưởng thành có đường kính từ 100 đến 150 µm, có vỏ bọc gọi là màng trong suốt, chứa nguyên sinh chất và một nhân to lệch sang bên.
  • Bề mặt noãn có nhiều vi mao xuyên qua màng trong suốt, bào tương tích lũy nhiều mucopolysaccharide, phosphatase kiềm và ARN. Phần lớn ARN tập trung thành từng vùng đặc biệt.

2.1.3. Những bất thường trong sự sinh giao tử

  • Sự sinh tinh là một quá trình liên tục, mỗi ngày có hàng trăm triệu tinh trùng được tạo ra, 50% mang NST X và 50% mang NST Y.
  • Sự sinh noãn là một quá trình không liên tục, từng chu kỳ sinh ra những tế bào không bằng nhau (mặc dù trong cùng một lần phân bào), chỉ có một noãn hữu ích còn hai cực cầu vô dụng.
  • Các quá trình phức tạp trên có thể là nguyên nhân gây bất thường về hình thái hoặc bất thường về NST:
    • Bất thường về hình thái: Rất khó quan sát những bất thường về hình thái ở noãn vì rất hiếm (nang noãn nguyên thủy có hai noãn bào, một noãn bào chứa nhiều nhân...), nhưng đối với tinh trùng thì có thể thấy rõ hơn (ví dụ: tinh trùng hai đầu hoặc hai đuôi, đầu teo hoặc biến dạng...).
    • Bất thường về NST: Bất thường trong sự phân chia NST thường và NST giới tính.

2.2. Sự thụ tinh

Sự hợp nhất cấu trúc tinh trùng và noãn xảy ra ở 1/3 ngoài của ống dẫn trứng. Thực chất đây là sự hòa lẫn giữa hai bộ NST của noãn và tinh trùng.

2.2.1. Sự di chuyển của tinh trùng

Khi giao hợp, tinh trùng được trộn với tinh tương trở thành tinh dịch tổng vào âm đạo. Trung bình có khoảng 200 triệu tinh trùng trong mỗi lần phóng tinh vào âm đạo. Từ các cùng đồ âm đạo, tinh trùng có khoảng 20 cm đường đi để tới địa điểm thụ tinh. Với tốc độ 1,5 - 2,5 mm trong 1 phút ở nhiệt độ cơ thể, ước tính thời gian cần thiết phải mất là khoảng từ 90 phút đến 2 giờ. Thời gian này có thể thay đổi dài ngắn khác nhau do nhiều yếu tố gây nên.

Đầu tiên, sau khi xuất tinh, tinh trùng tập trung nhiều ở cùng đồ âm đạo. Như vậy, với cấu trúc thông thường tử cung hơi ngả trước thì lỗ cổ tử cung hướng về phía sau sẽ nằm ngay trong đám tinh dịch. Nhờ sự tự chuyển động và nhờ những co bóp của các thớ cơ âm đạo, sức hút cổ tử cung, độ pH thích hợp vùng cổ tử cung, tinh trùng sẽ di chuyển nhanh đến lỗ ngoài cổ tử cung để chuẩn bị đi qua ống cổ tử cung tới tử cung và vòi tử cung. Cổ tử cung trước đó được bịt kín bởi một nút chất nhầy đặc quánh, dưới ảnh hưởng của các loại nội tiết tố sản sinh theo thời điểm của vòng kinh đặc biệt là của estradiol được sinh ra từ nang trứng trong quá trình phát triển, sẽ thay đổi về số lượng, trở nên loãng hơn, trong hơn, nhất là vào giai đoạn trước phóng noãn và phóng noãn cho phép những tinh trùng di động nhanh nhất và mạnh nhất đi qua ống cổ tử cung, số còn lại nằm lại ở vùng cổ tử cung và túi cùng âm đạo.

Qua được ống cổ tử cung, nhờ sự tự di động, kèm với các yếu tố tác động khác như sự vận động của các nhung mao niêm mạc, luồng dịch vận chuyển trong lòng của tử cung và vòi tử cung; tác động của các đoạn thắt sinh lý như lỗ trong cổ tử cung, lỗ trong vòi tử cung, ... có tác dụng chọn lọc về chất đã giúp tinh trùng di chuyển được lên phía vòi tử cung. Lên được đến địa điểm thụ tinh, người ta nhận thấy số lượng tinh trùng ít đi rất nhiều nhưng chất lượng được chọn lọc tốt hơn, đa số là các tinh trùng bình thường so với tinh trùng ở các vị trí khác. Hiện tượng tinh trùng bị tiêu hủy trong quá trình di chuyển được coi là một điểm cần thiết về sinh lý, vì nếu tinh trùng đến được địa điểm quá đông hoặc có những con không tốt thì trứng thụ tinh sẽ không được bình thường.

2.2.2. Sự di chuyển của noãn

Đoạn đường đi của noãn đến nơi thụ tinh ngắn hơn rất nhiều so với tinh trùng nhưng noãn lại không thể tự chuyển động được mà phải nhờ những yếu tố xung quanh. Ban đầu, khi nang noãn vỡ ra, noãn thoát khỏi nang và nằm trên mặt của buồng trứng. Thời điểm này noãn đang ở giai đoạn noãn bào loại II, xung quanh có màng trong và lớp tế bào hạt. Sau đó, noãn được hút về phía vòi tử cung dưới một cơ chế chưa được biết thật rõ. Có thuyết cho rằng đó là do tác động phối hợp của nhu động vòi tử cung và các nhung mao trong vòi tử cung. Tác động này càng mạnh nếu các tua loa của vòi tử cung càng gần noãn. Ngoài ra, giả thuyết khác về vai trò của chất dịch thường có trong ổ bụng luôn có xu hướng chuyển động về phía loa vòi tử cung nên hút noãn theo hướng đó cũng được đặt ra. Những yếu tố khác như sự co thắt những thớ cơ trơn trong các tua vòi, vai trò của nội tiết tố,... cũng được nhắc tới. Khi tới lỗ loa vòi tử cung, noãn sẽ vượt qua và di chuyển trong vòi tử cung tương đối nhanh, chỉ sau vài giờ là có thể tới được địa điểm thụ tinh. Sự di chuyển này là do những yếu tố như: luồng dịch từ ổ bụng vào tử cung, nhu động của vòi tử cung, sự cử động của nhung mao vòi... Trong giai đoạn phóng noãn, lượng estrogen tăng cao kích thích sự co bóp của các cơ trơn nên đã đẩy noãn di chuyển nhanh.

Sự thụ tinh

Vào khoảng ngày thứ 14 của vòng kinh, noãn từ buồng trứng được phóng ra ngoài và được loa vòi tử cung hút vào trong lòng vòi. Nếu có tinh trùng ở âm đạo, tinh trùng sẽ chạy lên nhanh về phía vòi tử cung qua kênh cổ tử cung, buồng tử cung để gặp noãn và thụ tinh ở 1/3 ngoài vòi tử cung. Nói chung, có khoảng vài triệu tinh trùng đến được gần noãn trong thời gian thích hợp vì tinh trùng có thể sống tới 1 tuần sau khi phóng còn noãn chỉ sống được hai ngày sau khi rụng. Dựa vào các thực nghiệm invivo, invitro thụ tinh trong ống nghiệm, ta có thể hình dung được quá trình thụ tinh đại cương như sau:

Năng lực hóa tinh trùng (capacitation):

Tinh trùng ngay sau khi xuất tinh chưa có khả năng thụ tinh với noãn. Sau khi xuất tinh, khoảng thời gian nằm trong đường sinh dục nữ (chính môi trường âm đạo đã làm biến đổi về sinh lý học của tinh trùng) sẽ giúp cho tinh trùng được năng lực hóa để có khả năng thụ tinh.

Ly giải (liquefaction):

Là bước đầu tiên trong quá trình năng lực hóa, là việc giải phóng tinh trùng ra khỏi các protein đông vón trong tinh tương, giúp chúng di chuyển đến cổ tử cung. Khi tinh trùng di chuyển qua cổ tử cung thì các protein gắn trên bề mặt màng bào tương sẽ bị tách ra chuẩn bị cho khả năng thụ tinh của tinh trùng.

Hoạt hóa tinh trùng (hyperactivation):

Là kết quả đầu tiên của năng lực hóa tinh trùng; khi hoạt hóa, tinh trùng sẽ chuyển từ chuyển động theo đường thẳng có biên độ nhỏ sang chuyển động mạnh có biên độ cao cho phép xâm nhập vào môi trường có độ nhớt cao ở đường sinh dục nữ, bơi được qua dịch vòi tử cung và xâm nhập được vào màng trong suốt của noãn.

Hóa ứng động tinh trùng (chemotaxis):

Là đặc tính mà nhờ đó tinh trùng di chuyển đến vòi tử cung mà không phải là đến một nơi nào khác, nó giúp tinh trùng di chuyển định hướng về phía noãn. Do noãn bài tiết ra chất có tính hấp dẫn với tinh trùng gắn kết vào các receptor đặc hiệu với tinh trùng, hướng chúng di chuyển đến nơi có nồng độ chất này cao. Một số nghiên cứu chứng minh rằng progesterone trong dịch nang noãn trưởng thành và nang trước phóng noãn chính là chất có tác dụng hóa ứng động tinh trùng di chuyển đến noãn.

Phản ứng túi cực đầu (acrosome reaction)

Là quá trình xảy ra ở cực đầu của tinh trùng, cần thiết cho sự xâm nhập của tinh trùng qua màng trong suốt của noãn, nếu không có nó tinh trùng sẽ không thể thụ tinh với noãn được dù cho đã di chuyển tới sát noãn. Đây là hiện tượng phức tạp mà kết quả là làm thay đổi cấu trúc của tinh trùng: đầu tiên là sự hợp nhất màng bào tương với màng ngoài của đầu tinh trùng hình thành các túi nằm giữa màng này; sau đó túi này vỡ ra giải phóng các enzym trong túi cực đầu là hyaluronidase và proteinase có tác dụng ly giải, tách các tế bào hạt bám xung quanh noãn, đồng thời trợ giúp tinh trùng xâm nhập qua màng trong suốt.

Tinh trùng gắn kết vào màng trong suốt

Khi tinh trùng tiếp cận với noãn (noãn bào II), cực đầu của tinh trùng sẽ giải phóng ra ba loại enzym gồm: 1) hyaluronidase làm tan tổ chức liên kết giữa các tế bào hạt của gò noãn và tế bào vành tia; 2) corona penetring enzym làm tan các tế bào vành tia; 3) acrosine làm tan màng trong suốt của noãn. Màng cực đầu tinh trùng và màng noãn hợp nhất lại để tinh trùng xâm nhập vào trong noãn bào. Lúc này xảy ra phản ứng "vỏ tế bào noãn": các tế bào hạt bên ngoài vỏ sẽ giải phóng ra các chất làm màng noãn bào cứng hơn và phá hủy mọi receptor gắn kết tinh trùng trên bề mặt màng noãn bào nhằm ngăn cản không cho các tinh trùng khác xâm nhập vào bên trong noãn nữa và tránh được hiện tượng đa thụ tinh.

Tinh trùng xâm nhập vào trong noãn

Khi tinh trùng vượt qua màng trong suốt của noãn, sự hòa hợp vỏ bọc noãn và vỏ bọc thân tinh trùng xảy ra, nhân tinh trùng hoàn toàn được đưa vào trong bào tương noãn, đuôi rời khỏi đầu bị giữ lại bên ngoài màng trong suốt.

Hoạt hóa noãn hay sự biến đổi ở nhân

Lúc này, noãn bào II sẽ hoạt hóa các enzym trong bào tương đồng thời hoàn thành phân bào giảm nhiễm lần thứ hai, tống xuất cực cầu II ra khỏi noãn bào, làm biến đổi nhân của noãn và nhân của tinh trùng thành hai tiền nhân cái và tiền nhân đực, quan sát bên ngoài có thể phân biệt được hai tiền nhân: tiền nhân cái bé hơn và AND phân bố không đều. Hai tiền nhân này tiếp tục phát triển riêng rẽ, các chất trong nhân tăng lên, AND tập trung nhiều hơn và nhân động đặc lại; sau đó chúng xích lại gần nhau và sau khoảng 10 giờ sau khi tinh trùng xâm nhập, chúng sẽ hợp nhất hòa lẫn thành một sau khi cởi bỏ hoàn toàn màng bọc nhân. Ta có một hợp tử và sự phân cắt thành phôi bào bắt đầu. Khoảng sau 30 giờ hợp tử đã phân chia thành 2 tế bào và bước vào giai đoạn nguyên phôi bào.

  • Kết quả của sự thụ tinh là:
    • Tái lập bộ nhiễm sắc thể (NST) của loài (2n).
    • Xác định giới tính của phôi: Nếu tinh trùng mang NST Y thì phôi nang mang tính đực, nếu tinh trùng mang NST X thì phôi nang mang tính cái.
    • Chuẩn bị để hợp tử phân bào.

3. SỰ DI CHUYỂN VÀ LÀM TỔ CỦA TRỨNG ĐÃ THỤ TINH

3.1. Sự di chuyển của trứng

Sau khi thụ tinh thường xảy ra ở 1/3 ngoài vòi tử cung, trứng tiếp tục di chuyển trong vòi tử cung để đến làm tổ ở buồng tử cung. Trứng di chuyển trong phần còn lại của vòi tử cung mất 3 - 4 ngày, sau đó còn sống tự do trong buồng tử cung thêm 2 - 3 ngày nữa mới bắt đầu quá trình làm tổ. Có ba cơ chế tham gia vào sự di chuyển của trứng:

  • Nhu động của vòi tử cung.
  • Hoạt động của nhung mao niêm mạc vòi tử cung.
  • Luồng dịch ổ bụng chảy từ phía loa vòi tử cung vào buồng tử cung.

Nội tiết tố của buồng trứng có tác dụng điều chỉnh sự co bóp của vòi tử cung. Estrogen và progesteron có ảnh hưởng đến nhu động của vòi tử cung.

Trên đường đi chuyển trứng phân bào rất nhanh, từ một tế bào ban đầu phân chia thành 2 rồi 4 tế bào mầm bằng nhau; sau đó phân chia thành 8 tế bào: 4 tế bào mầm to và 4 tế bào mầm nhỏ. Các tế bào mầm nhỏ phát triển nhanh hơn các tế bào mầm to và bao quanh các tế bào mầm to, tạo nên phôi dâu, có hình dạng bên ngoài giống hình quả dâu gồm từ 16 - 32 tế bào. Các tế bào mầm nhỏ tạo thành lá nuôi có tác dụng nuôi dưỡng bào thai; các tế bào mầm to nằm ở giữa sẽ trở thành các lá thai, sẽ phát triển thành thai nhi. Ở giai đoạn phôi dâu nhóm tế bào trung tâm lớn hơn sẽ cho ra cục phôi, nhóm tế bào ngoại vi nhỏ hơn ở giai đoạn 32 tế bào sẽ tiết dịch, tạo thành xoang đầy cục phôi về một góc để sau đó trở thành phôi nang ở ngày thứ 6, 7 kể từ khi phóng noãn. Trứng tự do trong buồng tử cung khoảng 2 - 3 ngày có lẽ là để đạt mức phát triển cần thiết và cũng để cho niêm mạc tử cung chuẩn bị được thích hợp.

3.2. Sự làm tổ

Ở giai đoạn phôi dâu khi đã lọt vào khoang tử cung (vào khoảng ngày thứ 5 - 6 sau thụ tinh) hình thành một hốc nhỏ trong lòng phôi dâu nơi cục phôi sẽ phát triển, những tế bào nhỏ giãn ra xung quanh hốc, tạo thành phôi nang. Phôi nang sẽ làm tổ vào nội mạc tử cung (khoảng ngày thứ 6 sau thụ tinh). Lúc này màng trong suốt đã biến mất do ngay trước khi làm tổ, phôi sẽ tiến hành thoát ra khỏi màng trong suốt, gọi là hiện tượng thoát màng, và đây là một quá trình quan trọng để phôi làm tổ.

Sự phát triển bình thường đòi hỏi sự hiện diện của 2 bộ NST của bố và mẹ mà vai trò không giống nhau để cần thiết cho sự phát triển các phần phụ và cần cho sự phát triển của cục phôi.

Phôi nang hình thành vào ngày thứ 5, phần lớn tế bào ngoại vi tạo thành lá nuôi. Cục phôi chứa hai loại tế bào, một loại có số lượng ít sẽ là nguồn gốc bản phôi, phần khác sẽ cho ra những phần phụ ngoài phôi cần thiết để duy trì phôi. Phôi nang bắt đầu làm tổ vào ngày thứ 6 hoặc thứ 7 và làm tổ ở mặt đáy của cục phôi nhờ hoạt động phân giải của lá nuôi hợp bào bằng cách bào mòn và xâm nhập dần dần vào nội mạc tử cung. Vào giai đoạn này, cục phôi bắt đầu tách rời khỏi lá nuôi.

Vị trí làm tổ phần lớn thường ở mặt sau đáy tử cung, nhưng cũng có thể ở chỗ khác. Các bước làm tổ bao gồm: dính, bám rễ, qua lớp biểu mô và nằm sâu trong lớp đệm, diễn biến như sau:

  • Ngày thứ 6 - 8: Hiện tượng dính và bám rễ của phôi: phôi nang dính vào niêm mạc tử cung, các chân giả xuất phát từ các tế bào nuôi bám vào biểu mô, một số liên bào bị tiêu hủy và phôi nang chui qua lớp biểu mô.
  • Ngày thứ 9 - 10: Phôi qua lớp biểu mô trụ, chưa nằm sâu trong lớp đệm và bề mặt chưa được biểu mô phủ kín.
  • Ngày thứ 11 - 12: Phôi nằm hoàn toàn trong lớp đệm nhưng lỗ chui qua vẫn chưa được phủ kín.
  • Ngày thứ 13 - 14: Phôi nằm hoàn toàn trong lớp đệm, được biểu mô phủ kín. Trung sản mạc được biệt hóa thành hai loại tế bào (lớp hội bào và lớp tế bào Langhans) và hình thành những gai rau đầu tiên.

Trước sự làm tổ, nội mạc tử cung dưới ảnh hưởng của progesterone, các yếu tố sinh hóa học, miễn dịch học và các yếu tố kích thích nội mạc mạch máu (Vascular Endothelial Growth Factor - VEGF) phát triển để đủ điều kiện đón nhận hợp tử. Trong giai đoạn phát triển nội mạc giàu mạch máu, lớp đệm sung huyết, phù nề, tuyến phát triển dài và cong queo, tích lũy nhiều glycogen và chất nhầy trong lòng tuyến và trong tế bào.

3.3. Những bất thường trong sự làm tổ

Thông thường phôi làm tổ ở mặt trước và mặt sau thân tử cung. Các vị trí bất thường có thể gặp: vòi tử cung, buồng trứng, cổ tử cung, trong ổ bụng, đó là thai "lạc chỗ" hay còn gọi là thai ngoài tử cung.

4. SỰ PHÁT TRIỂN CỦA TRỨNG ĐÃ THỤ TINH

Về phương diện tổ chức quá trình phát triển của trứng được chia làm hai phần:

  • Phần trứng sau này trở thành thai.
  • Phần trứng sau này trở thành các phần phụ của thai giúp cho thai phát triển.

Về phương diện thời gian, quá trình phát triển của trứng được chia làm hai thời kỳ:

  • Thời kỳ sắp xếp tổ chức: Bắt đầu từ lúc thụ tinh đến hết tháng thứ hai. Đây là giai đoạn hình thành các cơ quan trong cơ thể.
  • Thời kỳ hoàn thiện tổ chức: Từ tháng thứ ba trở đi đến khi đủ tháng. Đây là giai đoạn phát triển và hoàn thiện các tổ chức cơ quan trong cơ thể.

4.1. Thời kỳ sắp xếp tổ chức

Trong thời kỳ này, nếu có rối loạn về sự phát triển của phôi thai sẽ gây ra dị dạng thai nhi về sau.

4.1.1. Sự hình thành bào thai

Trong quá trình di chuyển từ nơi thụ tinh đến nơi làm tổ, trứng đã thụ tinh tiếp tục phát triển qua giai đoạn phôi dâu và đến khi làm tổ thì ở giai đoạn phôi nang. Các tế bào mầm to tiếp tục phân chia và phát triển thành bào thai với hai lớp tế bào: lá thai ngoài và lá thai trong. Vào ngày thứ 6 - 7 kể từ khi thụ tinh, chúng bắt đầu biệt hóa thành lá thai trong, ngày thứ 8 biệt hóa thành lá thai ngoài, vào tuần thứ 3 giữa hai lá sẽ phát triển thêm lá thai giữa. Các lá thai này tạo ra phôi thai và từ tuần lễ thứ 8 phôi thai được gọi là thai nhi.

Nguồn gốc Hình thành các bộ phận
Lá thai ngoài - Hệ thần kinh
- Da
Lá thai giữa - Hệ xương
- Hệ cơ
- Mô liên kết
- Hệ tuần hoàn
- Hệ tiết niệu
Lá thai trong - Hệ tiêu hóa
- Hệ hô hấp

Ở phôi thai mới thành lập người ta phân biệt ba vùng: Vùng trước là đầu, vùng giữa nhỏ ra để trở thành bụng, lưng có rãnh thần kinh, vùng sau là phần đuôi và có mạng lưới thần kinh. Vùng trước và sau dần dần phình ra để tạo hình chi trên và chi dưới. Cuối thời kỳ phôi thai phần đầu phôi to một cách không cân đối, đã có phác hình của mắt, mũi, miệng, tai ngoài; tứ chi trở nên rõ nét (có chồi ngón), các bộ phận chính như tuần hoàn, tiêu hóa cũng được thành lập ở thời kỳ này. Bào thai cong hình lưng tôm, phía bụng phát sinh ra nang rốn để cung cấp các chất dinh dưỡng. Từ các cung động mạch của thai các mạch máu phát ra đi vào nang rốn, đem chất dinh dưỡng nuôi thai. Đây là hệ tuần hoàn thứ nhất hay còn được gọi là hệ tuần hoàn nang rốn. Về sau ở phía đuôi và bụng bào thai mọc ra một túi khác gọi là nang niệu, trong nang này có phần cuối của động mạch chủ. Trong thời kỳ sắp xếp tổ chức, hệ tuần hoàn nang niệu mới bắt đầu hoạt động.

4.1.2. Sự phát triển của phần phụ

  • Nội sản mạc: Về phía lưng của bào thai một số tế bào của lá thai ngoài tan đi, tạo thành một buồng gọi là buồng ối, trong chứa nước ối, thành của màng ối là một màng mỏng gọi là nội sản mạc.
  • Trung sản mạc: Các tế bào mầm nhỏ phát triển thành trung sản mạc, bao gồm hai lớp: lớp ngoài là hội bào, lớp trong là các tế bào Langhans. Trung sản mạc tạo thành các chân giả bao vây quanh trứng, thời kỳ này được gọi là thời kỳ trung sản mạc rậm (thời kỳ rau toàn diện).
  • Ngoại sản mạc: Trong khi trứng làm tổ niêm mạc tử cung phát triển thành ngoại sản mạc. Người ta phân biệt ba phần:
    • Ngoại sản mạc tử cung: Chỉ liên quan đến tử cung.
    • Ngoại sản mạc trứng: Chỉ liên quan đến trứng.
    • Ngoại sản mạc tử cung - rau: Là phần ngoại sản mạc nằm giữa lớp cơ tử cung và trứng.

4.2. Thời kỳ hoàn chỉnh tổ chức

Trong thời kỳ này, nếu có rối loạn về sự phát triển của phôi thai sẽ gây ra các biến dạng thai nhi về sau.

4.2.1. Sự phát triển của thai

Thời kỳ này phôi thai được gọi là thai nhi, bắt đầu có đủ các bộ phận và tiếp tục lớn lên, phát triển tới khi hoàn chỉnh tổ chức. Bộ phận sinh dục được nhận biết rõ rệt vào tháng thứ 4 (tuần thứ 16), thai cũng bắt đầu vận động vào cuối tuần thứ 16 (mẹ có cảm giác thai máy). Cuối tháng thứ 6 da thai còn nhăn, được bao bọc bởi chất gầy, sang tháng thứ 7 da bớt nhăn do nhiều mỡ dưới da; xuất hiện móng tay và móng chân. Các điểm cốt hóa ở đầu dưới xương đùi xuất hiện vào tuần thứ 36, thời kỳ này đầu có tóc, vành tai ngoài mềm thường gấp nhận lại vì thiếu sụn. Điểm cốt hóa xuất hiện ở đầu trên xương chày vào tuần thứ 38; thai đủ tháng có da mịn trơn, được bao phủ bằng chất gầy, có lông măng, móng tay dài hơn móng chân, vành tai cứng hơn vì đầy đủ sụn. Trong thời kỳ thai sống bằng hệ tuần hoàn thứ hai hay hệ tuần hoàn nang niệu. Nang niệu lôi kéo dần các mạch máu của nang rốn sang, trong khi đó nang rốn teo dần đi. Cuối cùng tuần hoàn nang niệu thay thế hoàn toàn tuần hoàn nang rốn, rồi dần dần nang niệu cũng teo đi, chỉ còn lại các mạch máu, đó là động mạch rốn và tĩnh mạch rốn.

4.2.2. Sự phát triển của các phần phụ

  • Nội sản mạc: Ngày càng phát triển, buồng ối ngày càng rộng ra và bao quanh thai nhi, thai nhi như con cá nằm trong nước.

Trung sản mạc

Các chân giả sẽ tan đi, trung sản mạc trở thành nhẵn, chỉ còn lại phần bám vào tử cung sẽ tiếp tục phát triển thành gai rau với hai loại tế bào là hội bào và tế bào Langhans, trong lòng gai rau có tổ chức liên kết và các mao mạch của các mạch máu rốn. Lớp hội bào đục thủng niêm mạc tử cung tạo thành các hồ huyết, chứa hai loại gai rau:

  • Gai rau dinh dưỡng: Lơ lửng trong hồ huyết, có nhiệm vụ trao đổi chất dinh dưỡng và oxy giữa thai và mẹ.
  • Gai rau bám: Sẽ bám vào nóc hoặc vách hồ huyết, giữ cho bánh rau bám vào niêm mạc tử cung.

Ngoại sản mạc

Ngoại sản mạc trứng và ngoại sản mạc tử cung teo mỏng dần, đến gần đủ tháng hai màng này hợp làm một và chỉ còn ở một số vùng. Ngoại sản mạc tử cung - rau tiếp tục phát triển và bị đục thành các hồ huyết, có máu mẹ từ các nhánh của động mạch tử cung chảy tới; sau khi trao đổi dinh dưỡng máu theo các nhánh của tĩnh mạch tử cung trở về tuần hoàn mẹ.

5. KẾT LUẬN

Tóm lại, quá trình thụ tinh giữa tinh trùng và noãn và quá trình làm tổ, phát triển của trứng là một quá trình phức tạp đan xen nhiều cơ chế của tự nhiên nhằm khởi đầu cuộc sống cho một cá thể mới là phôi - thai với mục đích sau cùng là duy trì giống nòi của loài người.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Anne M. Jequier (2000). The anatomy and physiology of the male genital tract. The structure and function of the Human Spermatozoon, Sperme transport and Fertilization. Male Infertility - A guide for the clinician. Blackwell Science. 8 - 25, 26 - 35.
  2. Christopher J. De Jonge (2000). Human fertilization. Assisted reproduction laboratory. 1 - 15.
  3. J. Lansac et al (2003). Histoire naturelle de la grossesse. Obstetrique pour le praticien, 4e edition, Masson, Paris. 3 - 15.