Trang chủ

Thư viện Seadrop

Sinh lý tiêu hóa ở dạ dày

Posted in Sinh lý học by

1. Hoạt động cơ học ở dạ dày

  • Các loại cử động: Sự co giãn của các cơ thành dạ dày tạo nên cử động trương lực (sóng co bóp nhẹ nhàng khi không có thức ăn, tăng mạnh tạo cảm giác đói sau khoảng 1 giờ), động tác đóng tâm vị khi thức ăn từ thực quản dồn xuống, cử động co chu kỳ hay nhu động dạ dày (lan từ tâm vị xuống môn vị để nhào trộn thức ăn với dịch vị thành vị trấp) và động tác đóng - mở môn vị ngắt quãng để tống từng đợt vị trấp xuống tá tràng.
  • Sắp xếp thức ăn và sức chứa: Khi vào dạ dày, thức ăn xếp thành những vòng tròn đồng tâm trong thân và đáy dạ dày (thức ăn mới ở giữa, thức ăn cũ sát thành). Phản xạ dây X làm giảm trương lực vùng thân giúp dạ dày phình ra để chứa thức ăn, khả năng chứa tối đa lên đến 1,5 L mà áp suất bên trong vẫn thấp. Vùng đáy dạ dày không tham gia trực tiếp vào việc nghiền trộn mà giúp đẩy thức ăn xuống môn vị nhờ bóng hơi và trương lực cơ, đồng thời ngăn thức ăn trào ngược.

Thời gian lưu lại:

  • Glucid lưu lại từ 2–3 giờ;
  • Protein từ 4–5 giờ;
  • Lipid từ 5–7 giờ;
  • Riêng nước qua dạ dày ngay lập tức.

(Nguồn: Sách: Giải Phẫu Sinh Lý Người / Bài: 05 GIẢI PHẪU - SINH LÝ HỆ TIÊU HÓA.pdf và Sách: Sinh lý học y khoa PNT / Bài: 17 Hoạt động hệ tiêu hóa ở dạ dày.pdf)

2. Hoạt động bài tiết và hóa học ở dạ dày (Tác dụng của dịch vị)

Mỗi ngày dạ dày bài tiết khoảng 2000–3000 ml dịch vị bao gồm acid clohydric (HCl), pepsinogen, chất nhầy, enzym và một số ion vô cơ, tạo ra pH trung bình 2,0–3,5. Dịch vị có 4 nhóm tác dụng chính:

  • Tác dụng của enzym tiêu hóa: * Pepsin: Do tế bào chính tiết ra ở dạng tiền enzym pepsinogen, được HCl hoạt hóa thành pepsin để thủy phân protein thành các đoạn polypeptid ngắn (biến đổi khoảng 10–20% protein thức ăn).
  • Chymosin (Rennin): Enzym đông sữa, chuyển caseinogen thành casein kết hợp với calci tạo váng sữa, rất quan trọng ở trẻ em.
  • Lipase dạ dày: Hoạt động yếu trong môi trường acid (tối thuận ở pH=6,0), giúp thủy phân lipid đã nhũ tương hóa thành acid béo, monoglycerid và glycerol, chủ yếu có ý nghĩa ở trẻ đang bú mẹ.
  • Tác dụng của HCl: Do tế bào viền (tế bào thành) sản xuất nhờ enzym anhydrase carbonic và "bơm proton". HCl giúp tạo môi trường acid hoạt hóa pepsin, làm trương protein, kích thích nhu động dạ dày, tham gia đóng mở tâm vị - môn vị, sát trùng chống lên men thối, và tham gia điều hòa bài tiết các hormone tiêu hóa.

Tác dụng của chất nhầy và bicarbonat: Chất nhầy (gồm loại hòa tan và không hòa tan) cùng bicarbonat tạo thành màng nhầy đệm trung hòa acid, che chở bảo vệ niêm mạc dạ dày khỏi sự phá hủy của acid và pepsin.

Tác dụng của yếu tố nội: Do niêm mạc dạ dày vùng đáy tiết ra giúp hấp thu vitamin B12 ở ruột non – chất cần thiết cho quá trình tạo hồng cầu.

(Nguồn: Sách: Giải Phẫu Sinh Lý Người / Bài: 05 GIẢI PHẪU - SINH LÝ HỆ TIÊU HÓA.pdf và Sách: Sinh lý bệnh và Miễn dịch YHN / Bài: 18. Sinh lý bệnh tiêu hóa.pdf)

3. Điều hòa bài tiết dịch vị và sự thoát thức ăn

Điều hòa bài tiết dịch vị: Quá trình bài tiết dịch vị khi ăn được chia làm 3 giai đoạn (giai đoạn đầu, giai đoạn dạ dày, giai đoạn ruột) và điều hòa phối hợp bởi hai cơ chế: - Cơ chế thần kinh: Dây thần kinh X (phó giao cảm) đóng vai trò kích thích chính qua phản xạ dài và giải phóng acetylcholin làm tăng tiết HCl, pepsinogen, chất nhầy và kích thích tế bào G tiết GRP. Hệ thần kinh ruột (đám rối Meissner) điều hòa qua phản xạ tại chỗ. Ngược lại, thần kinh giao cảm (dây tạng) ức chế bài tiết. Trạng thái tâm lý thoải mái, giận dữ làm tăng tiết; lo âu, sợ hãi làm giảm tiết. - Cơ chế hormone: Gastrin (tế bào G) và histamin (tế bào ECL hoặc tế bào ưa crôm) kích thích tế bào viền tăng tiết HCl rất mạnh. Khi dịch vị quá acid (pH < 3), cơ chế ngược sẽ hoạt động: somatostatin (tế bào D) được tiết ra để kìm hãm tế bào G, ECL và tế bào thành nhằm bảo vệ dạ dày.

Điều hòa sự thoát thức ăn khỏi dạ dày: Tốc độ đẩy thức ăn xuống tá tràng chịu sự kiểm soát ngược từ hai phía, trong đó tín hiệu từ tá tràng là quan trọng nhất: - Tín hiệu từ dạ dày: Thức ăn làm căng dạ dày kích thích dây X, phản xạ tại chỗ và giải phóng gastrin làm tăng lực bơm môn vị, mở môn vị. - Tín hiệu từ tá tràng (Điều hòa ngược âm tính): Khi vị trấp xuống tá tràng quá nhiều, quá acid, nhược/ưu trương hoặc có nhiều acid béo, nó sẽ khởi động phản xạ ruột - dạ dày và kích thích tiết các hormone cholecystokinin (CCK), secretin, GIP nhằm làm giảm lực bơm môn vị và đóng môn vị lại để ruột non kịp xử lý thức ăn.

(Nguồn: Sách: Sinh lý học YHN / Bài: 11. Sinh lý bộ máy tiêu hóa.pdf, Sách: Giải Phẫu Sinh Lý Người / Bài: 05 GIẢI PHẪU - SINH LÝ HỆ TIÊU HÓA.pdf và Sách: Sinh lý học y khoa PNT / Bài: 17 Hoạt động hệ tiêu hóa ở dạ dày.pdf)