Các nguyên nhân sản phụ khoa thường gặp gây đau bụng
Hiện tượng phóng noãn (Mittelschmerz): Gây cảm giác trăn nặng hoặc đau mơ hồ giữa chu kỳ kinh nguyệt ở 1/4 bụng dưới phía trái do phóng noãn, căng giãn lớp vỏ bao buồng trứng hoặc xuất huyết nhẹ khi phóng noãn. (Nguồn: Sách: Sản phụ khoa những điều cần biết / Bài: 12. Đau Vùng Chậu Cấp Tính và Mạn Tính.pdf)
Nang buồng trứng: Nang noãn bào gây đau ở 1/4 bụng dưới phải hoặc trái; có thể biến chứng xoắn gây đau, vỡ dây và vỡ kèm xuất huyết. Nang hoàng thể cũng có thể gây các biến chứng tương tự như xoắn, vỡ và xuất huyết. (Nguồn: Sách: Sản phụ khoa những điều cần biết / Bài: 12. Đau Vùng Chậu Cấp Tính và Mạn Tính.pdf)
Thai kỳ và các tai biến liên quan: Thai trong tử cung: Gây đau bụng do các lá phúc mạc tạng bị căng giãn khi tử cung lớn lên, các cơn co tử cung giai đoạn đầu, bao buồng trứng do nang hoàng thể, vỡ hoàng thể hoặc do dọa sảy thai. (Nguồn: Sách: Sản phụ khoa những điều cần biết / Bài: 12. Đau Vùng Chậu Cấp Tính và Mạn Tính.pdf)
Thai ngoài tử cung: Gây đau vùng chậu trước và sau khi vỡ do làm căng giãn ống dẫn trứng hoặc kích thích phúc mạc vì xuất huyết. (Nguồn: Sách: Sản phụ khoa những điều cần biết / Bài: 12. Đau Vùng Chậu Cấp Tính và Mạn Tính.pdf)
Nhiễm trùng vùng chậu: Gây ảnh hưởng tới ống dẫn trứng, buồng trứng, mô quanh tử cung, thành chậu, tử cung và các cơ quan khác trong hố chậu/ổ bụng, dẫn đến cả đau vùng chậu cấp tính và mạn tính. (Nguồn: Sách: Sản phụ khoa những điều cần biết / Bài: 12. Đau Vùng Chậu Cấp Tính và Mạn Tính.pdf)
U tử cung và khối u phần phụ: U tử cung (u xơ, sarcoma cơ tử cung) gây đau do xoắn, hoại tử, căng giãn lớp phúc mạc tạng tử cung hoặc đè ép cơ quan khác. Khối u phần phụ gây đau bụng hoặc đau vùng chậu khi có xuất huyết, hoại tử, xoắn hoặc vỡ với tính chất đau từ từ, dữ dội cấp tính hoặc từng cơn. (Nguồn: Sách: Sản phụ khoa những điều cần biết / Bài: 12. Đau Vùng Chậu Cấp Tính và Mạn Tính.pdf)
Xoắn buồng trứng: Gây đau vùng chậu dữ dội, liên tục hoặc xảy ra từng cơn, đi kèm buồn nôn, nôn, vã mồ hôi. (Nguồn: Sách: Sản phụ khoa những điều cần biết / Bài: 12. Đau Vùng Chậu Cấp Tính và Mạn Tính.pdf)
Lạc nội mạc tử cung: Lạc nội mạc tử cung (ngoại biên): Gây xuất huyết và dây dính, đặc điểm cơn đau là khởi phát trước khi hành kinh nhiều ngày và hết đau khi hành kinh xong (hoặc đau suốt chu kỳ). (Nguồn: Sách: Sản phụ khoa những điều cần biết / Bài: 12. Đau Vùng Chậu Cấp Tính và Mạn Tính.pdf)
Lạc nội mạc trong cơ tử cung: Gây thống kinh nhiều ngày trước khi hành kinh và kéo dài đến ngày cuối cùng của chu kỳ. (Nguồn: Sách: Sản phụ khoa những điều cần biết / Bài: 12. Đau Vùng Chậu Cấp Tính và Mạn Tính.pdf)
Thống kinh: Đau vùng bụng dưới hoặc vùng chậu liên quan đến giai đoạn ngay trước và trong lúc hành kinh. (Nguồn: Sách: Sản phụ khoa những điều cần biết / Bài: 12. Đau Vùng Chậu Cấp Tính và Mạn Tính.pdf)
Hậu sản bệnh lý: Viêm phúc mạc tiểu khung ở thời kỳ hậu sản biểu hiện bởi sự thay đổi toàn trạng và đau bụng, kèm theo bụng trướng, mất nhu động ruột. (Nguồn: Sách: Sản khoa YHN / Bài: 47. Một số vấn đề thường gặp thời kỳ hậu sản.pdf)
Biểu hiện bất thường ở bụng do các bệnh lý và tình trạng khác
Hội chứng Cushing (Ưu năng vỏ thượng thận): Tăng tích tụ mỡ ở bụng gây béo phì thể bụng (béo phì trung tâm). Trên da thành bụng xuất hiện các vết rạn màu đỏ hình răng cưa do thành bụng căng vì lớp mỡ dày, đứt gãy mô dưới da và thiếu hụt sợi collagen do tăng thoái hóa protein. (Nguồn: Sách: Sinh lý học SĐH tập 2 / Bài: 07 Sinh lý tuyến thượng thận.pdf)
Béo phì: Gây tích lũy mỡ quá mức ở vùng bụng do các nguyên nhân như tổn thương vùng dưới đồi, suy giảm tuyến sinh dục, cắt hạch giao cảm thắt lưng (làm tăng khối mỡ khung chậu và bụng) hoặc do hội chứng Cushing. Ngoại hình người bệnh trở nên nặng nề, gây khó khăn cho các hoạt động hàng ngày và hoạt động của các cơ quan. (Nguồn: Sách: Sinh lý bệnh và Miễn dịch YHN / Bài: 07. Rối loạn chuyển hóa lipid.pdf)
Dị tật thành bụng trước ở thai nhi: Hở thành bụng: Khuyết tật cạnh rốn khiến ruột non (và có thể vài tạng khác) chui ra ngoài, không được phủ bởi màng nào. (Nguồn: Sách: Sản phụ khoa những điều cần biết / Bài: 55. Siêu Âm Sản Khoa.pdf)
Thoát vị rốn: Cơ quan ổ bụng chui ra qua chỗ bám dây rốn, khối thoát vị được bao phủ bởi phúc mạc thành, màng đệm và mô liên kết nhầy. (Nguồn: Sách: Sản phụ khoa những điều cần biết / Bài: 55. Siêu Âm Sản Khoa.pdf)
Các vấn đề về bụng trong can thiệp phẫu thuật và thủ thuật
Giai đoạn sổ thai (Chuyển dạ): Các cơ thành bụng co lại phối hợp cùng cơ hoành đẩy xuống thấp làm giảm thể tích ổ bụng, từ đó làm tăng áp lực ổ bụng ép vào đáy tử cung để tống thai ra ngoài. (Nguồn: Sách: Sản khoa YHN / Bài: 15. Sinh lý chuyển dạ.pdf)
Phẫu thuật nội soi ổ bụng: Phương pháp này thực hiện bơm hơi (thường là CO2) làm căng phồng khoang bụng để tạo phẫu trường. Việc này làm tăng áp lực trong ổ bụng, đẩy cơ hoành lên cao gây cản trở hô hấp, giảm hồi lưu tĩnh mạch về tim, và là chống chỉ định tương đối đối với người nấc hoặc bụng trướng hơi. (Nguồn: Sách: Gây mê hồi sức tập 2 PNT / Bài: 16. Gây mê hồi sức trong phẫu thuật nội soi ổ bụng.pdf)
Mổ bụng ở bệnh nhân béo phì bệnh lý: Thành bụng quá dày gây khó khăn khi vào ổ bụng. Các nếp mỡ thừa làm cản trở khả năng tiếp cận vùng bụng dưới khi dùng đường rạch Pfannenstiel, đồng thời làm tăng nguy cơ nhiễm trùng vết mổ và chậm lành vết thương. (Nguồn: Sách: Sản phụ khoa những điều cần biết / Bài: 66. Mồ Lấy Thai và Sinh Ngả Âm Đạo khi có Tiền Căn Mổ Lấy Thai.pdf)
Rửa ống tiêu hóa / Rửa phúc mạc trong chấn thương thai kỳ: Được chỉ định khi bệnh nhân bị chấn thương có các dấu chứng hoặc triệu chứng ở bụng gợi ý xuất huyết trong phúc mạc. Kỹ thuật thực hiện là mở bụng hở quanh rốn nhằm tránh gây tổn thương cho tử cung mang thai. (Nguồn: Sách: Sản phụ khoa những điều cần biết / Bài: 50. Chấn Thương trong Thai Kỳ.pdf)
