Trang chủ

Thư viện Seadrop

Đại cương về huyết học cơ sở

Posted in Triệu chứng by

NỘI DUNG

Huyết học cơ sở là nền tảng cho chẩn đoán và điều trị các bệnh lý huyết học. Huyết học cơ sở bao gồm sinh máu, đặc điểm chức năng các tế bào máu, cơ chế đông cầm máu và hệ thống nhóm máu.

SINH MÁU VÀ ĐẶC ĐIỂM, CHỨC NĂNG CÁC TẾ BÀO MÁU

Tủy xương là nơi sinh các tế bào máu. Sinh máu cần các yếu tố: tế bào gốc, vi môi trường tủy xương sinh máu, các yếu tố tăng trưởng (cytokin), các nguyên liệu: sắt, vitamin, protein...Quá trình sinh máu là quá trình sinh sản kèm biệt hóa và trưởng thành các tế bào máu để từ một loại tế bào gốc ban đầu tạo nên các tế bào máu có chức năng khác nhau. Quá trình này được điều hòa thông qua các yếu tố tăng trưởng và các yếu tố ức chế. Các giai đoạn biệt hóa và trưởng thành để từ tế bào gốc sinh máu có thể sinh ra tế bào chức năng được trình bày ở sơ đồ sau:

enter image description here

Chú thích:

  • I. Pluripotent stem cell: tế bào gốc vạn năng
  • II. Myeloid stem cell: tế bào gốc dòng tủy
  • III. Lymphoid stem cell: tế bào gốc dòng lym phô
  • IV. CFU- GEMM: đơn vị tạo cụm dòng tủy
  • V. CFU- EO: đơn vị tạo cụm dòng bạch cầu ưa acid
  • VI. CFU- GM: đơn vị tạo cụm dòng hạt- mô nô
  • VII. CFU-Meg: đơn vị tạo cụm dòng mẫu tiểu cầu
  • VIII. BFU-E: đơn vị tạo cụm dòng hồng cầu sớm
  • IX. CFU-Mast: đơn vị tạo cụm dòng dưỡng bào
  • X. CFU-Bas: đơn vị tạo cụm dòng bạch cầu ưa base
  • XI. Platelet: tiểu cầu
  • XII. Erythrocyte: hồng cầu
  • XIII. B cell: lym phô B XIV. T cell: lym phô T XV. NK cell : tế bào NK
  • XVI. Eosinophils: bạch cầu ưa acid
  • XVII. Neutrophils: bạch cầu trung tính
  • XVIII. Macrophages: đại thực bào
  • XIX. Mast: dưỡng bào
  • XX. Basophils: bạch cầu ưa base

Đặc điểm, chức năng của hồng cầu

Hồng cầu được sinh ra và biệt hóa, trưởng thành ở tủy xương. Quá trình này trải qua các giai đoạn từ nguyên tiền hồng cầu, nguyên hồng cầu ưa base, nguyên hồng cầu đa sắc, nguyên hồng cầu ưa acid, hồng cầu lưới, hồng cầu trưởng thành. Quá trình biệt hóa toàn bộ dòng hồng cầu mất 3-5 giờ. Hồng cầu lưới được giải phóng vào tuần hoàn sau 1-2 giờ. Chức năng chính của hồng cầu là vận chuyển oxy.

Hồng cầu trưởng thành có hình đĩa lõm 2 mặt, có đường kính trung bình 7,5 pm, chiều dày 1pm ở trung tâm và 2,5pm ở ngoại vi. Hồng cầu không có nhân và các bào quan. Cấu trúc hồng cầu gồm hemoglobin (Hb) và khung tế bào gồm các chất xơ và protein.

Mỗi phân tử Hb gồm 1 phân tử globin (gồm 4 chuỗi polypeptid) và 4 nhân hem. Globin gồm 4 chuỗi polypeptid xếp từng cặp giống nhau, là các loại globin a, p, Y, ô. Hb ở bào thai là HbF (gồm 2 chuỗi a và 2 chuỗi y). Hb ở người trưởng thành gồm HbA1 (gồm 2 chuỗi a và 2 chuỗi P), HbA2 (2 chuỗi a và 2 chuỗi ỗ). Mỗi phân tử Hb có thể gắn với 4 phân tử oxy. 1g Hb gắn với 1,34 ml oxy. Nồng độ Hb trong máu khoảng 15g/100 ml máu.

Bình thường hồng cầu có đời sống khoảng 120 ngày. Có các yếu tố tế bào và môi trường ảnh hưởng đến đời sống hồng cầu.

  • Yếu tố tế bào: chuyển hóa hồng cầu bị thoái triển dẫn do các enzym nội bào không được thay thế, tế bào không tiếp tục sống được và sẽ chết. Rối loạn cấu trúc màng hồng cầu, khung tế bào, hemoglobin hay các enzym hồng cầu đều có thể ảnh hưởng đến đời sống hồng cầu.
  • Yếu tố môi trường:
    • Các sang chấn vật lý, hóa học: hoạt động của van tim nhân tạo, các sợi fibrin lắng đọng, tăng thân nhiệt, tiếp xúc với các chất hóa học.
    • Các yếu tố miễn dịch: các kháng thể chống lại kháng nguyên màng hồng cầu, vai trò trung gian của bổ thể.

Hồng cầu bị hủy sẽ giải phóng Hb, Hb chuyển hóa tạo bilirubin. Hồng cầu bị hủy nhiều gây thiếu máu, khi đó cơ thể sẽ tăng sinh hồng cầu để bù tạo hiện tượng tăng hồng cầu lưới.

Đặc điểm, chức năng của bạch cầu

Bạch cầu được sinh ra từ tủy xương, có nguồn gốc từ tế bào gốc vạn năng. Trong quá trình sinh máu, dòng bạch cầu được biệt hóa và trưởng thành tạo ra các dòng khác nhau với cấu trúc, chức năng có sự khác biệt. Sau khi trưởng thành, ra máu ngoại vi, gồm những loại bạch cầu sau: dòng tủy biệt hóa thành bạch cầu đoạn trung tính, bạch cầu đoạn ưa acid, bạch cầu đoạn ưa base, bạch cầu mô nô, dòng lym phô biệt hóa thành bạch cầu lym phô (lym phô B và lym phô T).

Bạch cầu đoạn trung tính

Bạch cầu đoạn trung tính là một phần thiết yếu của hệ thống miễn dịch cơ thể. Tên bạch cầu trung tính xuất phát từ đặc tính bắt màu khi nhuộm HE (hematoxylin và eosin). Trái ngược với bạch cầu ưa base bắt màu xanh tối, và bạch cầu ưa acid bắt màu đỏ sáng, các bạch cầu trung tính bắt màu hồng trung tính. Bình thường nhân của bạch cầu trung tính có từ 2-5 thuỳ. Trên tiêu bản máu đàn, bạch cầu trung tính có kích thước từ 12-15 |im. Cùng với bạch cầu ưa acid và bạch cầu ưa base, bạch cầu trung tính được xếp vào loại bạch cầu đoạn do đặc tính nhân có nhiều thuỳ. Đây là một điểm khác biệt so với bạch cầu lympho và bạch cầu mô nô. Bạch cầu trung tính là một loại bạch cầu có tỷ lệ cao nhất ở người trưởng thành, chiếm khoảng 70% tỷ lệ bạch cầu, với số lượng tuyệt đối từ: 2,5-7,5 G/l.

Nửa đời sống của bạch cầu trung tính khi không hoạt động ở máu ngoại vi là 12 giờ. Sau khi bị kích hoạt dưới tác động của các yếu tố viêm, bạch cầu trung tính sẽ di chuyển đến các mô bị viêm hay nhiễm khuẩn để thực hiện chức năng và có thời gian sống khoảng 1-2 ngày. Chúng như một hàng rào bảo vệ đầu tiên chống lại sự xâm lấn của bệnh. Bạch cầu trung tính có cơ chế trực tiếp chống lại vi khuẩn là: thực bào (ăn vi khuẩn), giải phóng các chất kháng khuẩn x o gồm các protein hạt) và tạo ra các bẫy ngoại bào (NETs) để bao lấy các yếu tố gây bệnh.

Bạch cầu đoạn ưa acid

Chúng có vai trò chống lại ký sinh trùng. Cùng với các dưỡng bào, bạch cầu ưa acid còn kiểm soát các cơ chế liên quan đến dị ứng và hen. Bạch cầu ưa acid thuộc dòng hạt được phát triển trong quá trình sinh máu ở tuỷ xương trước khi di chuyển đến máu

Thuật ngữ bạ sáng khi nhuộm eosin được sử dụng do bào tương có nhiều hạt bắt màu đỏ sáng khi nhuộm eosin. Nhưng hạt nhỏ chứa những chất trung gian hoá học như là histamine và các protein khác như peroxidase, ribonuclease (RNase)... Các chất trung gian này sẽ được giải phóng nhờ quá trình mất hạt sau khi các bạch cầu ưa acid bị hoạt hoá, gây độc ký sinh trùng và mô vật chủ.

Bình thường bạch cầu ưa acid chiếm khoảng 1-6% bạch cầu, có kích thước từ 12-17 thường có ở vùng tuỷ, vùng giữa vỏ và tuỷ tuyến ức, ở hệ thống dạ dày ruột, buồng trứng, bàng quang, lách, và hạch lympho, không xuất hiện ở phổi, da, hầu họng hoặc c cơ quan khác trong tình trạng bình thường. Thời gian bạch cầu ưa acid có mặt ở các cơ quan tuỳ thuộc vào bản chất bệnh. Bạch cầu ưa acid lưu hành ở máu ngoại vi từ 8-12 giờ, có thể sống ở mô khoảng 8-12 ngày nếu không bị kích hoạt.

Bạch cầu ưa acid có vai trò chống lại các virus, cùng với dưỡng bào và bạch cầu ưa base có vai trò trung gian trong đáp ứng dị ứng và bệnh sinh hen. Chúng cũng chống lại sự phát triển của quần thể giun và tăng nhẹ khi có nhiễm ký sinh trùng. Bạch cầu ưa acid cũng liên quan với các quá trình sinh học khác như sự phát triển của tuyến vú sau dậy thì, chu kỳ sinh sản, thải ghép đồng loại và tân sản.

Bạch cầu đoạn ưa base

Là loại bạch cầu chiếm tỷ lệ thấp nhất trong các loại bạch cầu hạt, có tỷ lệ khoảng 0,01-0,03% số lượng bạch cầu lưu hành ở máu ngoại vi.

Tên bạch cầu ưa base do nhạy cảm với phương pháp nhuộm base. Dưới kính hiển vi thấy bào tương có những hạt lớn làm mờ nhân tế bào. Trên tiêu bản không nhuộm, nhân tế bào rõ hơn với 2 thuỳ.

Bạch cầu ưa base thường tăng cao ở những vị trí nhiễm ký sinh trùng ngoài da, ví dụ như nhiễm ve. Chúng cũng xuất hiện ở các mô khi có phản ứng dị ứng và tạo nên mức độ trầm trọng của các phản ứng. Bạch cầu ưa base có các receptor bề mặt, các receptor này gắn rất chặt với kháng thể IgE - có liên quan đến những phản ứng với các yếu tố môi trường, ví dụ như phấn hoa.

Bạch cầu mô nô

Là một loại bạch cầu trong hệ thống miễn dịch cơ thể. Bạch cầu ô nô có 2 chức năng chính trong hệ thống miễn dịch: (1): trong tình trạng bình thường là nguồn bổ sung các đại thực bào và các tế bào sợi, (2): khi có các tín hiệu viêm, các bạch cầu mô nô di chuyển rất nhanh đến các vị trí nhiễm khuẩn ở mô và biệt hoá thành các đại thực bào và tế bào sợi để tham gia vào đáp ứng miễn dịch.

Bạch cầu mô nô được sinh ra ở tuỷ xương trong quá trình tạo máu từ những nguyên bào mô nô. Chúng lưu hành ở máu ngoại vi từ 1 đến 3 ngày, sau đó di chuyển vào các mô cơ thể. Bạch cầu mô nô chiếm khoảng 3-5% tổng số bạch cầu. 1/2 lượng bạch cầu mô nô nằm ở lách. Tại các mô, các bạch cầu mô nô trưởng thành thành các loại đại thực bào khác nhau tuỳ từng loại mô.

Bạch cầu lym phô

Bạch cầu lym phô là những tế bào có thẩm quyền miễn dịch, phối hợp với các tế bào thực bào để bảo vệ cơ thể chống lại nhiễm khuẩn và xâm lấn của yếu tố ngoại lai. Tủy xương và tuyến ức là các cơ quan lym phô nguyên phát. Các cơ quan lym phô thứ phát bao gồm các hạch lym phô, lách, các hệ thống lym phô ở đường tiêu hóa và hô hấp. Trên tiêu bản nhuộm Giemsa, dưới kính hiển vi các lym phô có hình dạng là những tế bào có nhân lớn sẫm màu, bào tương mỏng không có hạt. Các tế bào lym phô được chia làm 3 loại chính là lym phô B và lym phô T, tế bào NK đều được sinh ra từ tế bào gốc tạo máu.

Các tế bào lym phô B có vai trò trong đáp ứng miễn dịch thể dịch, chúng trưởng thành trong tủy xương và tuần hoàn ở máu ngoại vi cho đến lúc nhận ra những kháng nguyên xâm nhập. Sau khi đó, các tế bào này sẽ chuyển dạng thành tế bào B nhớ và tương bào, các tương bào có nhiệm vụ tiết ra các globulin miễn dịch chống lại các kháng nguyên xâm nhập.

Các tế bào lym phô T có vai trò trong miễn dịch qua trung gian tế bào, sau khi phát triển sẽ di trú đến tuyến ức, ở đây chúng sẽ được biệt hóa thành các tế bào T trưởng thành. Tế bào T hỗ trợ (T-CD4) sản xuất ra các cytokin trực tiếp tham gia vào cơ chế miễn dịch, tế bào T độc (T-CD8) sản xuất ra các hạt độc chứa các enzym gây chết các tế bào nhiễm bệnh.

Các tế bào NK (tế bào giết tự nhiên) là một phần của hệ thống miễn dịch bẩm sinh, chúng có vai trò bảo vệ cơ thể chống lại các tế bào u và các tế bào nhiễm virus. Khi được hoạt hóa, chúng sẽ giải phóng ra các hạt độc có khả năng phá hủy các tế bào bệnh.

Đặc điểm, chức năng của tiểu cầu

Cấu trúc của tiểu cầu

Tiểu cầu có cấu trúc phức tạp gồm lớp màng, các hạt, hệ thống vi ống, hệ thống các kênh mở.

Màng tiểu cầu

Gồm 2 lớp lipid kép bao quanh tiểu cầu, là các glycoprotein (Gp) quan trọng, đóng vai trò như các receptor bề mặt, là nơi diễn ra một số hoạt động đông máu của tiểu cầu.

Hệ thống vi ống và vi sợi

  • Vi ống: nằm ngay cạnh màng tiểu cầu tạo nên khung đỡ và tham gia vào hoạt động co rút khi tiểu cầu bị kích thích.
  • Vi sợi: gồm các sợi actin, liên hệ chặt chẽ với các vi ống và tham gia vào hoạt động tạo giả túc của tiểu cầu.

Hệ thống ống dày đặc

Hệ thống ống dày đặc gắn với calci lưỡng cực một cách chọn lọc và đóng vai trò kho dự trữ calci của tiểu cầu. Đây cũng là nơi tổng hợp men cyclooxygenase và prostaglandin tiểu cầu.

Hệ thống các hạt đặc hiệu

Gồm các hạt đặc và hạt a có vai trò tăng cường độ ngưng tập và giúp cho sự kết dính của tiểu cầu khi được giải phóng.

Hệ thống các kênh mở

Gồm các kênh mở vào trong tiểu cầu như các không bào làm tăng diện tích bề mặt tiểu cầu, các hạt tiểu cầu phóng thích các chất qua hệ thống kênh này.

Chức năng tiểu cầu

Chức năng chính của tiểu cầu là làm vững bền mạch máu, tạo nút cầm máu ban đầu và tham gia vào quá trình đông máu huyết tương. Tiểu cầu thực hiện các chức năng này nhờ các đặc tính sau

Chức năng dính bám

Bình thường tiểu cầu không dính vào thành mạch (có thể do prostaglandin gây ức chế dính tiểu cầu). Khi thành mạch tổn thương thì lập tức tiểu cầu được hoạt hoá và dính vào nơi tổn thương. Tiểu cầu còn có thể dính vào các bề mặt lạ như thuỷ tinh, lam kính...

Chức năng ngưng tập tiểu cầu

Đây là hiện tượng tiểu cầu dính với nhau thành từng đám (nút tiểu cầu). Hiện tượng dính hoạt hoá tiểu cầu, tạo điều kiện cho hiện tượng ngưng tập xảy ra. Một số chất có khả năng gây ngưng tập tiểu cầu là: ADP, thrombin, adrenalin, serotonin, acid arachidonic, thromboxan A2, collagen, ristocetin..., trong đó ADP đóng vai trò quan trọng nhất.

Chức năng phóng thích các chất của tiểu cầu

Sau hiện tượng ngưng tập, tiểu cầu thay đổi hình dạng: phồng to, trải rộng, kết dính, ngưng tập, hình thành chân giả, mất hạt, co lại...) và phóng thích các chất chứa bên trong tiểu cầu như ADP, serotonin, fibrinogen, men lysosome, p -thromboglobulin, heparin và nhiều loại men khác. Đây là hiện tượng có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc tham gia hình thành đinh cầm máu khi thành mạch bị tổn thương.

Vai trò của tiểu cầu trong đông cầm máu

  • Vai trò bảo vệ nội mô: tiểu cầu rất cần thiết cho sự toàn vẹn của mạch máu nhờ khả năng làm non hoá tế bào nội mạch và củng cố màng nội mạc thông qua hoạt động của yếu tố tăng trưởng nội mạc nguồn gốc từ tiểu cầu.
  • Tham gia vào quá trình cầm máu: nhờ có khả năng kết dính, ngưng tập và phóng thích các chất mà tiểu cầu tham gia rất tích cực vào quá trình cầm máu kỳ đầu. Sau giai đoạn co mạch, tiểu cầu kết dính và ngưng tập tạo đinh cầm máu Hayem (nút tiểu cầu).
  • Tham gia vào quá trình đông máu: tiểu cầu đóng một vai trò quan trọng trong quá trình đông máu.
  • Tham gia vào quá trình co cục máu đông và tiêu sợi huyết.

CƠ CHẾ ĐÔNG CẦM MÁU

Hầu hết quá trình đông máu bắt đầu ngay sau khi thành mạch bị tổn thương gây huỷ hoại lớp nội mạc, tạm phân chia 4 giai đoạn chính.

Co mạch

Ban đầu là hiện tượng co mạch tại chỗ hạn chế sự thất thoát máu ra ngoài lòng mạch. Hiện tượng co mạch diễn ra do 2 cơ chế: 1. Phản xạ thần kinh tại chỗ. 2. Cơ chế tác động dịch thể: các tế bào nội mạc giải phóng angiotensin II, tiểu cầu giải phóng serotonin, thromboxan A2 là những chất có tác dụng co mạch.

Tạo nút tiểu cầu (đinh cầm máu Hayem)

Lớp nội mạc bị tổn thương này giải phóng ra các thành phần phospholipid là yếu tố tổ chức và fibrinogen. Hai yếu tố này sẽ kích hoạt chuỗi phản ứng. Ngay lập tức tiểu cầu tạo thành nút tại chỗ tổn thương, quá trình này được gọi là cầm máu tiên phát.

Đông máu huyết tương

Đông máu hay còn gọi là cầm máu thứ phát sẽ diễn ra ngay sau đó. Quá trình này diễn ra nhờ một loạt đáp ứng của các protein đông máu huyết tương để tạo nên các sợi fibrin nối dài thêm nút tiểu cầu. Quá trình đông máu thường được gọi là thác đông máu. Thác đông máu có 2 con đường. Con đường hoạt hoá các yếu tố đông máu do tiếp xúc với bề mặt điện tích âm gọi là con đường nội sinh, con đường hoạt hoá yếu tố đông máu do tiếp xúc với yếu tố tổ chức gọi là đường ngoại sinh. Hai đường này đều dẫn tới sự hình thành thrombin và cuối cùng dẫn đến con đường chung để tạo thành lưới fibrin. Con đường đông máu là một loạt các phản ứng, ở đó các zymogen (là các tiền enzym bất hoạt) và các đồng yếu tố sẽ được hoạt hoá để trở thành các yếu tố xúc tác cho các phản ứng tiếp theo mà kết quả cuối cùng là tạo nên lưới fibrin. Các zymogen và các đồng yếu tố được gọi là các yếu tố đông máu và được đánh số la mã từ I đến XIII:

enter image description here

  • Yếu tố I: fibrinogen: là một loại protein trong huyết tương, được chuyển thành fibrin khi máu đông
  • Yếu tố II: prothrombin: là một protein huyết tương là dạng tiền thân bất hoạt của thrombin
  • Yếu tố III: thromboplastin: là một enzym tự do có nguồn gốc từ tiểu cầu, có vai trò chuyển prothrombin thành thrombin khi máu bắt đầu đông
  • Yếu tố IV: ion calci, là một yếu tố trong cục máu đông
  • Yếu tố V: proaccelerin, là đồng yếu tố
  • Yếu tố VII: proconvertin, là yếu tố bền vững, phụ thuộc vitamin K
  • Yếu tố VIII: yếu tố chống Hemophilia A, là đồng yếu tố: liên quan đến bệnh Hemophilia A
  • Yếu tố IX: yếu tố chống Hemophilia B hoặc yếu tố Christmas: liên quan đến bệnh Hemophilia B
  • Yếu tố X: yếu tố Stuart, Prothrombinase, có vai trò như 1 enzym chuyển prothrombin thành thrombin
  • Yếu tố XI: tiền thân của thromboplastin: thiếu yếu tố này thường gây xuất huyết
  • Yếu tố XII: yếu tố Hageman: thiếu yếu tố này gây thời gian đông máu kéo dài
  • Yếu tố XIII: fibrinase: trong cục máu đông, dưới tác dụng xúc tác của thrombin,
  • Yếu tố XIII hoạt hoá thành fibrinase làm bền vững fibrin.

Co cục máu và tan cục máu đông

Giai đoạn cuối cùng của quá trình đông cầm máu là co cục máu và tiêu sợi huyết, tan cục máu đông. Sau 1-3 giờ, cục máu co lại, quá trình này thực hiện qua các receptor GP II/IIIa tiểu cầu. Các receptor này liên kết các sợi actin của tiểu cầu với bề mặt lưới fibrin. Sau 3-6 ngày, cục máu sẽ tan do quá trình tiêu fibrin (tiêu sợi huyết). Enzym chịu trách nhiệ ng quá trình này là plasmin và được điều hòa nhờ những yếu tố hoạt hóa và ức chế.

HỆ THỐNG CÁC NHÓM MÁU

Hệ thống nhóm máu người có vai trò quan trọng trong truyền máu và ghép tế bào gốc, ghép tạng. Sự khác biệt giữa các cá thể thể hiện ở những kháng nguyên khác nhau trên bề mặt tế bào máu. Sự khác biệt này tạo nên những nhóm máu khác nhau. Truyền máu, truyền tế bào gốc hay ghép phủ tạng từ những người cho có nhóm máu khác người nhận, thực chất là đưa những kháng nguyên lạ có thể gây ra những phản ứng miễn dịch. Những hiểu biết về hệ thống nhóm máu chính của người là kiến thức cần thiết trong truyền máu, trong ghép tế bào gốc để điều trị.

Hệ thống nhóm máu hồng cầu

Hệ thống ABO

Hệ thống ABO được phát hiện năm 1900, là một hệ thống nhóm máu chính ở người và có vai trò quyết định trong truyền máu. Hệ thống này gồm có 3 gen alien: A, B, O. Các gen A và B kiểm soát sự tổng hợp các enzym có khả năng chuyển dạng kháng nguyên H nằm trên màng hồng cầu chuyển dạng thành kháng nguyên A hoặc B. Trong khi đó gen O không có khả năng chuyển dạng kháng nguyên H. Các hồng cầu nhóm A chia làm 2 loại: A1 và A2 trong đó A2 có phản ứng với kháng thể yếu hơn A1, do vậy nhóm A2B có thể bị nhầm là nhóm B. Những người có kháng nguyên trên hồng cầu sẽ không có kháng thể tương ứng trong huyết tương. Nguyên tắc truyền máu dựa trên: không đưa kháng nguyên vào cơ thể người có kháng thể tương ứng và không đưa kháng thể vào cơ thể có kháng nguyên tương ứng.

enter image description here

Hệ thống Rhesus

Năm 1937 Karl Landsteiner và Alexandes S Wiener phát hiện trên hồng cầu người có một loại kháng nguyên giống như hồng cầu của loài khỉ Macacus Rhésus. Khác với hệ ABO, hệ thống này chỉ có các kháng nguyên tự nhiên trên hồng cầu, trong cơ thể không có kháng thể tự nhiên tương ứng. Các kháng thể chỉ được sinh ra do quá trình miễn dịch khi các cá thể được truyền máu không tương ứng hoặc do quá trình mang thai. Các kháng nguyên của hệ thống này bao gồm D, C, c, E, e. Các cá thể có kháng nguyên D đều có Rh dương tính. Nhóm Rh dương tính ký hiệu là Rh, nhóm có Rh âm tính ký hiệu là rh.

Các hệ thống nhóm máu khác

Các hệ thống nhóm máu này gồm hệ Kell, hệ Duffy, hệ Kidd, hệ Lutheran, hệ Lewis, hệ P, MN, L. Tuy nhiên các hệ này ít khi có ảnh hưởng đến các quyết định truyền máu.

enter image description here

Hệ thống kháng nguyên bạch cầu người

Hệ thống HLA (the human leukocyte antigen) là một phức hợp gen mã hóa cho các protein có vai trò hòa hợp tổ chức (MHC: the major histocompatibility complex), vì vậy nó còn có tên là hệ thống kháng nguyên hòa hợp tổ chức. Những protein trên màng tế bào này sẽ chịu trách nhiệm điều hòa hệ thống miễn dịch ở người. Phức hợp gen HLA nằm trên nhánh ngắn nhiễm sắc thể số 6 (6p21). Các protein được các gen này mã hóa được biết đến như là các kháng nguyên có yếu tố quyết định trong ghép tạng. Các kháng nguyên hòa hợp tổ chức chia làm 3 nhóm:

  • Lớp 1 (MHC class I) gồm A, B, C.
  • Lớp 2 (MHC class II) gồm DP, DQ và DR
  • Lớp 3 (MHC class III) mã hóa những thành phần của hệ thống bổ thể.

Nhóm máu hệ tiểu cầu

Tiểu cầu cũng có các kháng nguyên của ABO, HLA lớp I. Tiểu cầu cũng có kháng nguyên bề mặt riêng biệt HPA với 2 allen a và b.

Đại cương về huyết học cơ sở là tổng hợp một số kiến thức cơ bản về các dòng tế bào máu, cơ chế đông cầm máu và các hệ nhóm máu ở người. Tuy nhiên trong phạm vi bài này chỉ giới hạn một số điểm chính làm nền tảng cho ứng dụng lâm sàng.