Điều khiển chỉ trên là các dây thần kinh xuất phát từ đám rối cánh tay: Dây cơ bì, dây giữa, dây trụ, dây bì cánh tay trong, dây bì cẳng tay trong và dây quay.
Đám rối thần kinh thắt lưng cũng cho các dây thần kinh đùi, thần kinh ngồi, thẩn kinh mác chung và thần kinh chày chi phối hoạt động của chi dưới.
Bài này trình bày triệu chứng của các dây thẩn kinh: Giữa, trụ, quay ở chỉ trên, đùi mác chung, chày và thần kinh ngồi ở chi dưới. Bệnh lý thẳn kinh ngoại biên chiếm tỷ lệ nhỏ so với các bệnh ở sọ não và tủy sống. Nguyên nhân hàng đầu là do chấn thương làm đứt dây thần kinh, dây thần kinh bị kéo dãn, dập hoặc chèn ép. Nguyên nhân không do chấn thương gồm: Bệnh tiểu đường, viêm nút quanh động mạch, bệnh phong, zona. Ngoài ra, còn có một số nguyên nhân hiếm gặp: Bệnh Sarcoidosis, chảy máu trong dây thần kinh ở người bị hemophilie, dị ứng...
Nguyên nhân có thể khác nhau nhưng những biến đổi mô học của dây thần kinh sau khi bị tổn thương đểu là quá trình thoái hóa Waller và mất myêlin từng đoạn.
Khi một dây thần kinh ngoại biên bị gián đoạn dẫn truyển (đứt, chèn ép,..) sẽ có liệt vận động, giảm hoặc mất cảm giác và rối loạn dinh dưỡng ở lĩnh vực nó chi phối với các mức độ khác nhau, tùy thuộc vào thương tổn và từng dây cụ thể.
TRIỆU CHỨNG HỌC CÁC DÂY THẨN KINH NGOẠI BIÊN
A. VẬN ĐỘNG CÁC CƠ
1. Ở cẳng tay
- Sấp tròn.
- Gan tay lớn, bé.
- Gấp các ngón nông
- Gấp các ngón sâu.
- Gấp ngón cái dài.
- Sấp vuông.
2. Ở bàn tay
- Dạng ngón cái ngắn.
- Đối ngón cái.
- Gấp ngón ngắn.
- Cơ giun 1 và 2.
B. VÙNG CẢM GIÁC
- Nửa ngoài gan bàn tay.
- Mặt gan các ngón cái, trỏ, giữa và nửa ngoài ngón nhẫn.
- Mặt mu của đốt hai, ba ngón trỏ, giữa và nửa ngoài ngón nhẫn.
C. TRIỆU CHỨNG
1. Vận động
Động tác sấp (úp) cẳng tay không thực hiện được do liệt cơ sấp tròn và sấp vuông.
Gấp bàn tay khó khăn do liệt cơ gan tay lớn và bé nhưng còn thực hiện được ít nhiều nhờ vận động của cơ trụ trước.
Không gấp ngón trỏ và cái được (ngón nhẫn và út còn làm được nhờ các bó trong của cơ gấp sâu do dây trụ điểu khiễn). Các ngón khác gấp không được ở các đốt 2 và 3, còn lại gấp đốt 1 do các cơ liên cốt (điều khiển bởi dây trụ) đảm nhiệm.
Gấp và đối ngón cái không được do liệt các cơ gấp riêng, gấp ngắn, dạng ngắn và đối ngón cái, dẫn tới mất khả năng "kẹp tinh tế” giữa ngón cái và ngón trỏ. Không thể làm chữ O bằng ngón cái và ngón trỏ được.
Ngón cái không làm động tác “đếm ngón tay”: Đối chiếu với đầu của bốn ngón còn lại được.
Do mất động tác gấp của ngón cái và ngón trỏ, bàn tay có dáng “bàn tay nhà tiên tri”.
2. Cảm giác
a. Giảm hoặc mất cảm giác ở
- Phần ngoài của gan bàn tay, từ đường trục của ngón nhẫn trở ra, trừ bờ ngoài gò cái.
- Mặt gan của nửa ngoài ngón nhẫn và các ngón cái, trỏ, giữa.
- Mặt mu các đốt 2, 3 các ngón trỏ, giữa và nửa ngoài nhẫn.
b. Câm giác chủ quan
Có thể có cơn đau dây thần kinh hoặc cơn đau chói.
3. Rối loạn dình dưỡng
Teo cơ ở phần dưới cẳng tay, mô cái, có thể kèm theo tím và khô da ở các ngón tay, đặc biệt ở đốt 2-3 của các ngón trỏ và giữa. Thể điển hình sẽ thấy: Da mỏng và phù, móng của ba ngón đầu tiên khô s n sùi dễ gẫy kèm với dấu hiệu “vuốt giữa”: Các ngón cái, trỏ, giữa bất động ở tư thế gấp không hoàn toàn, không thể duỗi ra được do co kéo của các gân gấp và bao hoạt dịch.
D. NGUYÊN NHÂN
1. Đứt dây thần kinh
Do vật sắc như dao hoặc mảnh kính thường ở 1/3 dưới cẳng tay, gân gấp, động mạch quay dễ bị kèm theo.
2. Chèn ép thần kinh
Do gẫy xương hoặc trật khớp, sẹo can xương...ở vùng khuỷu.
Hội chứng ống cổ tay: Nữ bị nhiễu hơn nam, biểu hiện bằng đau và tê (nhất là về ban đêm) ở các ngón cái, trỏ và giữa. Có thể thấy có liệt và teo các cơ ở mô cái kèm theo giảm cảm giác ở mặt gan ba ngón đầu tiên. Khi gõ vào vùng cổ tay sẽ làm rõ lên dấu hiệu tê đau ở các ngón (dấu Tinel) và gập cổ tay một thời gian (1-3 phút) làm tăng thêm các rối loạn cảm giác (dấu Phalens).
A. VẬN ĐỘNG CÁC CƠ
1. Mô út
- Gan tay ngắn.
- Dạng ngón út.
- Đối ngón út.
- Gấp ngón út ngắn.
2. Các cơ gian coat.
3. Cơ giun 3 và 4.
4. Khép ngón cái.
5. Bó sâu và cơ gấp ngón cái.
B. VÙNG CẢM GIÁC
Mặt gan nửa trong (nửa trụ) bàn tay, ngón út, nửa trong ngón nhẫn, nửa trong mu bàn tay.
C. TRIỆU CHỨNG
1. Vận động
Gập và áp bàn tay vào c ng tay gần như không được do liệt cơ trụ trước; tuy nhiên nhờ các cơ gan tay lớn và bé và cơ trụ sau (do dây quay điều khiển) nên bàn tay còn gấp và áp được ít nhiều.
Khả năng gấp các ngón nhẫn, út bị giảm do liệt hai bó trong của cơ gấp chung sâu. Động tác gấp đốt ba (trên đốt hai) bị ảnh hưởng trong khi gấp đốt hai (trên đốt một) còn thực hiện được nhờ cơ gấp chung nông (do dây giữa điều khiển). Gấp đốt một (trên xương bàn) cũng như duỗi đốt 2, 3 không thực hiện được do liệt các cơ gian cốt. Chức năng này có thể còn giữ được một phẩn đối với ngón trỏ và giữa nhờ cơ giun 1 và 2 (dây giữa điều khiển).
Không còn khả năng dạng và áp các ngón do liệt các cơ gian cốt mu và gan tay. Khi khám để bàn tay trên mặt phẳng (bàn) nhằm tránh các nhóm cơ khác “giúp đỡ”. Động tác kẹp tờ giấy giữa ngón cái và ngón trỏ khống thực hiện được do mất cử động áp ngón cái. Để giữ được tờ giấy, phải dùng hai đầu ngón tay, động tác này do các cơ đối và gấp ngón cái dài thực hiện và như vậy từ động tác kẹp phải dùng sức mạnh (bấm) để giữ tờ giấy. Đây là dấu Froment. Động tác đối giữa ngón cái và ngón nhẫn cũng khó khăn, có khi không thực hiện được.
Liệt các cơ mô út làm cho ngón nhẫn không gấp, áp được.
Bàn tay ở tư thế vuốt trụ vì mất thăng bằng giữa các cơ gian cốt bị liệt và các cơ duỗi gấp các ngón. Các cơ gian cốt là cơ gấp của các đốt 1, lại là cơ duỗi với các đốt 2 và 3. Các cơ duỗi ngón tay làm duỗi các đốt 1, các cơ gấp (gấp đốt 2, 3) gấp các cơ đốt kia. "Vuốt trụ” không xảy ra ở các ngón 2 và 3 nhờ các cơ giun 1 và 2 có chức năng tương tự như cơ gian cốt: Gấp duỗi đốt ngón tay, do dây giữa điều khiển.
2. Cảm giác
a. Giảm hoặc mất căm giác ở
- Mặt gan bàn tay: Ngón út, nửa trong (trụ) ngón nhẫn, và gan bàn tay từ đường trục của ngón nhẫn vào trong.
- Mặt mu bàn tay: Ngón út, đốt 1 và nửa trong các đốt 2-3 của ngón nhẫn, nửa trong đốt một ngón giữa và mu bàn tay từ đường trục của ngón giữa vào trong.
b. Căm giác chủ quan
Tê hoặc đau thần kinh ở lĩnh vực do dây trụ chi phối.
3. Rối loạn dinh dưỡng
Teo cơ, tạo rãnh giữa các xương bàn tay (mặt mu), teo mô út và các khoang giữa các ngón tay làm dẹp mô cái. Teo cơ và mất cân bằng giữa các cơ của bàn tay tạo nên “vuốt trụ” (đã nói ở trên): Gấp không hoàn toàn của ngón úi và nhẫn (chủ yếu ở đốt 2) kèm với xanh tím hai ngón này. Đỏ ứng ở mặt trong bàn tay, da mong và phù, teo cơ, co kéo gân, dính gân vào bao hoạt dịch làm cố định tư thế gấp các ngón nhẫn, út (đôi khi cả ngón trỏ và giữa) tạo nên "vuốt trụ" không hổi phục kèm với co kéo cân bàn tay.
D. NGUYÊN NHÂN
a. Đứt dây thần kinh
Thường ở khuỷu hay cổ tay, do dao, mảnh kính hoặc đạn bắn (hiếm).
b. Chèn ép, kéo dãn hoặc dập thần kinh
Những nơi thẩn kinh hay bị chèn ép:
- Rãnh trong (rãnh thẩn kinh trụ ở cánh tay) do chấn thương kèm gẫy đầu dưới xương cánh tay, gẫy mỏm ròng rọc hoặc xương trụ. Có thể chèn ép ngay sau chấn thương hoặc do tổ chức xơ, sẹo, can xấu bao quanh dây thần kinh hoặc dây thẩn kinh bị kéo dãn do cẳng tay bị lệch ở tư thế vęo ra (valgus).
- Trong ống trụ do cân nối hai bó cơ trụ trước ép vào.
- Trong khoang Guyon sau gẫy xương hoặc chấn thương tối thiểu lắp đi lắp lại (gặp ở thợ mộc, thợ giày, vận động viên xe đạp).
c. Nhiễm độc hoặc nhiễm trùng thần kinh ít gặp (bệnh phong).
A. VẬN ĐỘNG CÁC CƠ
1. Thân dây thần kinh cho nhánh điểu khiển
- Ở hõm nách: Cơ tam đầu cánh tay.
- Trong rãnh nhị đầu ngoài: Cơ ngửa, cơ quay thứ nhất.
2. Nhánh sau điều khiển các cơ
- Quay thứ hai.
- Ngửa ngắn.
- Trụ sau.
- Duỗi các ngón.
- Duỗi ngón út.
- Dạng ngón cái dài.
- Duỗi ngón cái ngắn.
- Duỗi ngón út ngắn.
- Duỗi ngón trỏ.
B. VÙNG CẢM GIÁC
- Mặt sau cánh tay.
- Phần giữa mặt sau cẳng tay.
- Bờ ngoài (bờ quay) mặt mu bàn tay, mặt mu ngón cái và đốt 1, 2 của ngón trỏ, nửa ngoài đốt 1 ngón giữa.
C. TRIỆU CHỨNG
1. Vận động
Liệt động tác duỗi cẳng tay, bàn tay và các ngón tay. Cẩng tay ở tư thế nửa gấp, bàn tay rủ, các ngón tay gấp không hoàn toàn, ngón cái khép, là những dấu hiệu điển hình của liệt dây quay. Do cẳng tay không duỗi được (liệt.cơ ba đầu), nên bàn tay cũng không duỗi được (liệt các cơ quay, cơ trụ sau), duỗi các ngón khó khăn (liệt cơ duỗi chung các ngón, các cơ duỗi ngón cái, ngón trỏ và ngón út). Mất khả năng duỗi các ngón ở các đốt 1, trong khi các đốt 2, 3 còn làm được nhờ các cơ gian cốt (thần kinh trụ chỉ huy).
Dạng và duỗi bàn tay cùng lúc không làm được do liệt cơ quay thứ nhất; áp bàn tay khó khăn vì liệt cơ trụ sau. Tuy nhiên động tác dang và áp bàn tay còn thực hiện được ở mức độ nhất định nhờ cơ gan tay lớn (thần kinh giữa) và cơ trụ trước (thẩn kinh trụ) hoạt động nhưng tay luôn ở tư thế gấp khi làm các cử động này. Động tác ngửa bị mất do liệt cơ ngửa ngắn. Nếu còn thực hiện được ở một mức độ nhất định là nhờ cơ nhị đầu cẳng tay phải ở tư thế gấp.
Gấp cẳng tay bị yếu đi do liệt cơ ngửa. Do cơ này không co đồng thời với cơ nhị đầu nên sẽ có một dấu hiệu đặc trưng cho liệt dây quay: Người bệnh co cẳng tay và cố giữ ở tư thế này, người khám kéo ra, quan sát không thấy cơ ngửa dài “gồ” lên ở cẳng tay, nghĩa là cơ ấy bị liệt hay có liệt dây quay. Trong khi đó, hội chứng rễ C7 cũng có các triệu chứng lâm sàng như đã mô tả ở trên, trừ dấu hiệu liệt cơ ngửa.
Dạng ngón cái yếu liệt do cơ duỗi ngắn và dạng ngón cái dài bị liệt nhưng động tác mở mép thứ nhất của bàn tay vẫn thực hiện được một phần nhờ cơ dạng ngón cái ngắn (điều khiển bởi dây giữa).
Gấp các ngón tay vẫn được nhưng do mất lực vì cổ tay gấp và mất đi sự co kéo đối kháng của các cơ duỗi, nên việc cẩm các vật khó khăn.
2. Cảm giác
a. Mất hoặc giảm cảm giác kín đáo ở bàn tay
Mặt mu của ngón cái, đốt 1 ngón trở, nửa ngoài (quay) đốt 1 ngón giữa và phía ngoài (phía quay) mu bàn tay từ đường trục ngón giữa trở ra.
b. Rối loạn dinh dưỡng
Hiếm, kín đáo, chỉ thể hiện bởi phù ở mu bàn tay, xương bàn tay gổ lên và teo các cơ bị liệt. Có thể thấy da mỏng, phù, mất nếp nhăn, các ngón tay teo nhỏ, viêm bao hoạt dịch các gân duỗi và co kéo dính gân cơ. Lúc này các ngón tay không ở tư thế gấp mà trái lại, duỗi thường trực (do dính gân).
D. NGUYÊN NHÂN
- Đứt dây thần kinh do dao (vật sắc) hoặc gẫy thân xương cánh tay, khuỷu, lỗi cầu...
- Chèn ép, co kéo, dập thẫn kinh do chấn thương trực tiếp, vị trí bất thường của thai trong tử cung, do forcep kéo quá mạnh (ở trẻ sơ sinh), đi nạng, garot quá siết, đè vào cánh tay lúc ngủ (liệt ở những người yêu nhau, hoặc lúc say rượu), can xương, seo xd...
A. VẬN ĐỘNG CÁC CƠ
- Thắt lưng-chậu.
- Lược.
- May.
- Tứ đầu đùi.
- Khép lợn.
B. VÙNG CẢM GIÁC
- Mặt trước đùi.
- Mặt trong 1/3 dưới đùi.
- Mặt trong gối.
- Mặt trong cẳng chân.
- Một phẫn bờ trong bàn chân.
C. TRIỆU CHỨNG
1. Vận động
Liệt cơ tứ đầu đùi: Mất động tác duỗi cẳng chân. Khi bước đi phải giữ gối luôn ở tư thế duỗi (do co căng cơ đùi) gấp gối nhẹ là bị ngã. Nếu liệt toàn bộ, khi di chuyển phải dựa vào chân lành, chân bệnh đưa ra phía trước. Có thể đi trên đường phẳng nhưng không chạy được.
Mất khả năng dạng và xoay ngoài đùi do liệt cơ may. Liệt cơ lược làm yếu động tác gấp-khép đùi.
Mất phản xạ gối.
2. Cảm giác
- Giảm hoặc mất cảm giác mặt trước đùi, mặt trong cẳng chân kéo dài tới mắt cá trong và phần giữa bờ trong bàn chân.
- Đau kiểu cháy bỏng, xoắn vặn... (cảm giác chủ quan) đôi khi xảy ra.
3. Rối loạn dinh dưỡng
- Teo cơ ở khoang trước bên đùi.
- Khớp gối và xương bánh chè có những cử động bất thường do tràn dịch trong khớp, hậu quả của chấn thương khớp do bước đi bất thường.
D. NGUYÊN NHÂN
- Chấn thương vùng khung chậu (gẫy khung chậu hoặc đầu trên xương đùi, hay vết thương do đạn hoặc vật sắc) hoặc do chèn ép trong quá trình phẫu thuật (cắt tử cung, ghép thận).
- Tụ máu sau phúc mạc, áp xe bao cơ thăn (do lao).
- Ung thư vùng tiểu khung, u dây thần kinh, túi phình động mạch đùi là một số nguyên nhân hiếm gặp.
- Biến chứng của bệnh tiểu đường có thể gây đau (như cháy bỏng, về đêm), teo cơ tứ đầu đùi và giảm hoặc mất phản xạ gối.
Dây thần kinh ngồi hay còn gọi là thẩn kinh tọa do đám rối cùng sinh ra trong khung chậu từ sự hợp nhất của các thân thắt lưng cùng (tạo nên từ nhánh trước của rễ L5 và nhánh nối đến từ L4), nhánh trước của rễ S1 và một phần các rễ S2, S3. Ở đùi cho các nhánh vận động nhóm cơ ụ ngồi-cẳng chân và các cơ khép lớn.
Ở khoảng 1/3 dưới đùi chia thành hai nhánh: Thẫn kinh mác chung và thẫn kinh chày.
- Thần kinh mác chung
- Điều khiển vận động các cơ ở khu trước ngoài cẳng chân và cơ mu chân.
- Phụ trách cảm giác vùng trước ngoài cẳng chân, mặt mu bàn chân (3 phía trong đường nối giữa khoang gian cốt bàn thứ 3 và mắt cá ngoài-trừ phía sau của bờ trong bàn chân) và mặt mu của các ngón 1, 2 và 3 trừ các đốt xa.
- Thần kinh chày
- Điểu khiển vận động các cơ phía sau cẳng chân và gạn chân.
- Phụ trách vùng cảm giác phẩn sau dưới cẳng chân, vùng gót, gan và bờ ngoài bàn chân, phía ngoài mu bàn chân từ khoang liên cốt thứ ba tới mắt cá ngoài, mặt gan của các ngón chân và mặt mu ngón 4, 5 và đốt xa của các ngón khác.
A. LIỆT THẦN KINH MÁC CHUNG
1. Lâm sàng
Mất khả năng duỗi các ngón chân và duỗi bàn chân. Ở tư thế ngồi chân buông thõng, bàn chân “rủ”, vòm bàn chân xoay trong, các ngón chân gấp lại. Khi đứng, vòm bàn chân phẳng, không “ngóc” đầu ngón chân lên được.
Lúc đi, bước kiểu “chân ngựa”: Gối được kéo mạnh lên sau đó “văng” cẳng chân ra phía trước để tránh các đầu ngón chân vướng vào mặt đất.
Teo cơ ở khoang trước ngoài cẳng chân.
Khảo sát chị tiết sức cơ cho thấy: (Yếu) Liệt các cơ trước ngoài cẳng chân. Bàn chân không thể “ngóc" lên, không dạng được các ngón do liệt cơ chày trước, cơ duỗi các ngón chân dài và cơ duỗi các ngón cái dài; bàn chân cũng không thể xoay vào trong được do liệt cơ chày trước tuy rằng động tác khép nhẹ bàn còn thực hiện được nhờ cơ cẳng chân sau: Bàn chân không thể xoay ngoài do liệt các cơ mác.
Giảm và mất cảm giác ở vùng do dây thẩn kinh chi phối.
2. Nguyên nhân
- Chấn thương: Đứt dây thần kinh (vật sắc gây ra), gẫy xương mác, bó bột quá chặt.
- Chèn ép ngoài cũng có thể gặp trong lúc ngủ bình thường hay bệnh lý (say rượu, ma túy), hôn mê, tư thế “bất thường" lúc gây mê, do cẳng chân ở tư thế bắt chéo hay gấp. Chèn ép thần kinh mác sâu liên quan tới sưng căng cơ chày trước do chấn thương, luyện tập quá sức hoặc tắc động mạch chày trước.
- Bệnh lý thẩn kinh do thiếu máu nuôi (viêm nút quanh động mạch, tiểu đường) hay nhiễm khuẩn (bệnh phong) cũng là nguyên nhân gây liệt.
B. LIỆT THẦN KINH CHÀY
1. Lâm sàng
a. Vận động
- Mất khả năng gấp bàn chân, các ngón chân.
- Khi ngồi buông thõng cẳng chân, bàn chân nghiêng ra ngoài (valgus). Khi đứng, bàn chân cũng có xu hướng nghiêng,ra ngoài, không đứng trên mũi chân được. Khi bước đi, sức nặng đè vào bờ trong của bàn chân, không nhấc gót khỏi mặt đất được.
- Teo khoang sau của cẳng chân.
- Khảo sát chi tiết sức cơ cho thấy mất khả năng gấp bàn chân do liệt cơ tam đầu cẳng chân, mất vận động gấp ngón do liệt cơ gấp ngón chung, cơ gấp ngón cái và các cơ gấp bàn chân; mất khả năng cử động dạng và khép ngón do liệt cơ gian cốt mu và gan chân, các cơ dạng và khép ngón 1 và 5.
- Mất phần xạ gân gót (Achille).
b. Cảm giác
- Giảm (ít khi mất) cảm giác ở khu vực do dây thần kinh phụ trách: Vùng gót, gan bàn chân, bờ ngoài bàn chân, mặt gan các ngón chân, và mặt mu của đốt xa. Đau (cảm giác chủ quan) cũng thường gặp.
- Phù, xanh tím và loét ở bàn chân.
2. Nguyên nhân
Có thể do chấn thương trực tiếp, chèn ép do xương gẫy, u hoạt dịch hoặc khối u vùng khoeo.
Hội chứng ống cổ chân do chèn ép thần kinh chày ở phía sau và dưới mắt cá trong, biểu hiện bằng các cơn đau cháy bỏng hay giảm cảm giác ở gan bàn chân và các ngón. Cơn đau thường xuất
hiện về đêm, khi gõ vào mắt cá trong làm xuất hiện hoặc đau tăng lên. Các triệu chứng này còn gặp sau chấn thương mắt cá chân, viêm gân, đau do loạn dưỡng, mất cân bằng của bàn chân.
C. LIỆT THẦN KINH NGỒI
1. Lâm sàng
- Là tổng hợp các triệu chứng của liệt thần kinh mác chung và thần kinh chày.
- Khi đứng thấy teo rõ ràng cẳng chân, nếp mông xệ.
- Bàn chân lỏng lẻo, nếu còn đi được thì có bước đi kiểu “chân ngựa".
- Khảo sát chi tiết sức cơ thấy liệt hoàn toàn các cơ ở cẳng chân (điều khiển bởi các dây mác chung và chày). Giảm hoặc mất (hiếm khi) động tác gấp cẳng chân do liệt các cơ ở khoang sau đùi (chi phối bởi các nhánh bên).
- Mất phần xạ gân gót và đùi mác.
- Mất cảm giác da ở khu vực do hai dây mác chung và chày phụ trách. Đau (cảm giác chủ quan) lan theo hướng đi của dây thần kinh, thường kèm theo rối loạn dịnh dưỡng.
- Teo cơ cẳng chân rõ kèm với phù và khô da.
2. Nguyên nhân
- Chấn thương: Gẫy thấu khớp háng và chậu, do tiêm không đúng kỹ thuật hoặc do phẫu thuật ở khớp háng.
- Tụ máu, u mỡ hoặc phì đại cơ tháp.
- Chèn ép ngoài trong giấc ngủ bệnh lý (say rượu, ma túy), hôn mê, gây mê...
- Khối u vùng chậu (u sợi thần kinh, sarcom).
II. CHẨN ĐOÁN THƯƠNG TỔN DÂY THẲN KINH NGOẠI BIÊN
Khám lâm sàng cho phép nhận định có thương tổn thần kinh ngoại biên, xác định vị trí: Rễ thẩn kinh, đám rối hay đoạn nào của dây thần kinh. Chẩn đoán điện thần kinh bao gồm:
- Kích thích điện thẩn kinh.
- Đo điện cơ.
- Đo vận tốc dẫn truyền thần kinh.
- Các kết quả đo được.
- Khẳng định có thương tổn thần kinh (ngoại biên).
- Xác định vị trí của thương tổn.
- Đánh giá tiên lượng các thương tổn cấp tính (do chấn thương hoặc nguyên nhân khác).
III. KẾT LUẬN
- Phải nắm vững nhóm cơ và vùng do cảm giác do từng dây thần kinh ngoại biên chịu trách nhiệm.
- Khám tỉ mỉ tìm các nhóm cơ theo chức năng (nhóm cơ duði, nhóm cơ gấp...) bị yếu liệt; các vùng da (mặt trước, mặt sau, mặt mu, mặt gan...) bị giảm hay mất cảm giác hoặc đau, dị cảm bất thường, rối loạn dinh dưỡng... là những yếu tố quan trọng nhất để chẩn đoán thương tổn dây thần kinh ngoại biên.
- Chẩn đoán điện thần kinh có tác dụng hỗ trợ xác định chẩn đoán lâm sàng, phần nào dùng để đánh giá tiên lượng trong các trường hợp dây thẩn kinh bị tổn thương cấp tính, không hoàn toàn.
TÀI LIỆU ĐỌC THÊM
- Jean de Recondo. Sémiologie du système nerveux, du symptome audiagnostic, Médecine-Science Flammarion, 2001: 239-58.
