SINH LÝ VÀ GIẢI PHẪU HỌC TUYẾ
Nhắc lại giải phẫu tuyến giáp
Tuyến giáp là 1 tuyến nội tiết đơn nằm ở phía trước - dưới cổ. Tuyến giáp gồm 2 thuỳ bên nối với nhau bằng 1 lớp mô mỏng nằm ngang được gọi là eo tuyến giáp. Các thuỳ bên có hình kim tự tháp 3 cạnh đáy quay xuống dưới, cao (dài) 2,5 - 4 cm, rộng 1,5- 2 cm và dày 1 - 1,5 cm. Eo tuyến giáp nằm ngay dưới sụn nhẫn, ở giữa đỉnh sụn giáp và hõm ức. Cực trên tuyến giáp bị chặn lại bởi cơ ức đòn chũm gắn vào sụn giáp. Tuy nhiên ở phía sau và cực dưới thì không bị chặn nên khi tuyến giáp to sẽ phát triển lên trên và xuống phía dưới, thậm chí cả vào trong lồng ngực.
Ở người trưởng thành, tuyến giáp cân nặng 20 - 30g, được bao bọc bởi một lớp vỏ xơ dính vào mô tuyến. Nằm trong bao giáp, tuyến giáp độc lập với bao mạch nhưng bị cột vào bao tạng (trục khí quản - thực quản), nên nó di động khi ta nuốt.

Tuyến giáp có liên hệ mật thiết với các mạch máu, dây thần kinh quặt ngược và tuyến cận giáp. Động mạch và tĩnh mạch giáp trên ở cực trên các thùy bên, còn động mạch giáp dưới đi vào mặt sau các thùy này. Tuyến giáp được tưới máu rất dồi dào, lưu lượng máu đạt 4-6 ml/phút/gam nhu mô tuyến giáp. Trong bệnh Basedow hệ thống mạch này căng đầy máu nên có thể sờ thấy rung miu và nghe thấy tiếng thổi tâm thu hoặc tiếng thổi liên tục.
Dây thần kinh quặt ngược đi dọc theo trục khí - thực quản và nằm ở mặt sau mỗi thùy bên. Các tuyến cận giáp nằm dán vào mặt sau các thùy bên, đôi cận giáp trên nằm ở giữa lưng chừng chiều cao của thùy giáp và các đôi cận giáp dưới nằm ở cực dưới của thùy giáp.
Nhắc lại mô học
Mô giáp gồm những tiểu thùy được tạo thành bởi sự hợp dính từ 30 - 40 đơn vị chức năng cơ bản là các túi hay nang giáp. Các nang có hình cầu, kích thước khác nhau, được tạo thành bởi một lớp tế bào duy nhất. Lớp tế bào này tạo ra một khoảng rỗng ở giữa, đó là khoang nang chứa đầy chất keo có thành phần chủ yếu là thyroglobulin có cấu trúc của glycoprotein.

Hình thể nang giáp sẽ thay đổi tùy theo tình trạng chức năng của tuyến giáp. Ở trạng thái nghỉ, chiều cao của các tế bào nang bị hạn chế, khoang nang dãn nở, chứa đầy chất keo. Trong thời kỳ hoạt động, chiều cao của các tế bào tăng lên và khoang nang hẹp lại. Tuy nhiên có sự không đồng nhất về chức năng của các nang vì chúng không nhất loạt hoạt động ở cùng một giai đoạn.
Nhắc lại sinh lý học
Hormon giáp là những acid amin có nhiều iod, tức là các iodothyronin (ITH), thyroxin (T4) và tri-iodothyronin (T3) do các nang giáp tiết ra; ngoài ra còn có Calcitonin, hay Thyrocalcitonin do các tế bào C cận nang tiết ra.
Tổng hợp hormon giáp
Quá trình này gồm nhiều giai đoạn và phụ thuộc vào chu trình chuyển hóa iod, vào sinh tổng hợp Thyroglobulin (TG). Toàn bộ quá trình này chịu sự kiểm soát của TSH.
Bắt iod
Tuyến giáp là kho dự trữ iod lớn nhất trong cơ thể (lên tới 8000 I^g), dưới dạng iod hữu cơ gắn với TG, dự trữ ở trong lòng các nang giáp như một chất dạng keo. Trong tuyến giáp, sự bắt iod phải có mặt của TSH. Nó tăng khi tuyến bị kích thích bởi TSH hay khi dự trữ hormon trong tuyến giáp giảm.
lod huyết tương lưu hành trong máu dưới dạng iodure (I- ) đến từ các nguồn sau:
- Từ thức ăn, trung bình 100 đến 300 microgram mỗi ngày.
Từ sự khử iod ở ngoại vi của hormon giáp (T3, T4) và tiền hormon giáp (monoiodotyrosine - MIT và di-iodotyrosine - DIT).
Sự bắt iod cần năng lượng, nhờ vào bơm iod(với sự hoạt động của Na-K-ATPase). Khi vào trong tế bào giáp, các iod này sẽ trộn lẫn với iodur được giải phóng sau khi bài tiết hormon giáp và nhanh chóng được sử dụng để tổng hợp phân tử hormon giáp mới. Ở tuyến giáp bình thường, bơm iod tập trung iod tại tuyến giáp gấp 30 lần trong máu. Ở tuyến giáp tăng hoạt động, sự tập trung này có thể tăng đến gấp 250 lần.
Tổng hợp và dự trữ hormon giáp
Sự tổng hợp và dự trữ hormon giáp liên kết với thyroglobulin. Đây là chất cần thiết cho sự iod hóa và tạo nên dạng dự trữ hormon giáp trước khi bài tiết ra ngoài.
Trong tế bào giáp, mạng nội bào tương và lưới golgi tổng hợp và bài tiết thyroglobulin vào dịch keo. Một phân tử thyroglobulin có 2 tiểu đơn vị với trọng lượng phân tử tương đương (330.000), nhưng trong dịch keo nó ở dạng không đồng nhất.
Oxy hoá iod: bước đầu tiên của sự hình thành hormon giáp là oxy hóa I-- thành iodine (I2), là dạng có khả năng gắn với gốc amino acid tyrosin của phân tử thyroglobulin. Quá trình này có sự tham gia của men peroxydase khu trú ở cực đỉnh của tế bào giáp và sự oxy hóa iod xảy ra đúng vị trí mà ở đó thyroglobulin được tạo thành và đổ vào dịch keo. Khi hệ thống peroxydase bị cản hoặc do thiếu bẩm sinh thì tốc độ hình thành hormon giáp giảm xuống bằng không.
Sự gắn iod vào tyrosin: sự gắn iod vào phân tử thyroglobulin gọi là sự hữu cơ hóa thyroglobulin và gắn độ 1/6 gốc tyrosin trên phân tử thyroglobulin nhờ men iodinase. Đầu tiên, tyrosin được gắn với 1 và 2 iod để tạo thành MIT (T1) và DIT (T2). Tiếp đó trong vài phút, vài giờ hoặc vài ngày, các DIT ghép cặp để tạo thành thyroxin (T4), một MIT ghép với một DIT để hình thành Tri-iodothyronin (T3).
Sau khi được hình thành, các hormone giáp vẫn gắn vào phân tử thyroglobulin. Ở dạng này, hormon giáp dự trữ trong dịch keo đủ cung cấp cho cơ thể trong 2-3 tháng.
Sự di chuyển của hormon giáp: quá trình này diễn ra ngược lại với sự thu nhận iod: từ dịch keo đi qua tế bào và từ cực đỉnh đến cực mạch máu. Bắt đầu bằng sự hình thành các chân giả ở các nhung mao phía màng đỉnh của tế bào giáp. Chúng sẽ lấy các giọt keo tạo nên một cái túi trong lòng nó, rồi kết hợp với các lysosom chứa enzym tiêu hóa. Proteinas là một trong số các enzym này, tiêu hóa phân tử thyroglobulin và phóng thích T3, T4 bằng cách cắt các dây nối peptid gắn hormon với phân tử protein này. Các hormon khuếch tán về cực mạch máu để đổ vào mao mạch xung quanh, một số đi vào ống bạch huyết. Một phần rất ít hormon giáp được giải phóng dưới dạng 3-3’-5’ tri-iodothyronin còn gọi là rT3 (T3 nghịch) có tác dụng sinh lý rất yếu.
Cùng với sự phóng thích T3, T4, các MIT và DIT còn trong thyroglobulin cũng được phóng thích nhưng không được tiết vào máu, mà bị khử iod bởi men deiodinase. Chính những iod này quay trở lại trong tuyến để góp phần tạo hormon giáp mới.
Sự bài tiết hormon giáp
Độ 93% hormon được phóng thích từ giáp là thyroxine (100nmol/24giờ) và chỉ hơn 7% là T3 (10 nmol/24giờ). Sau vài ngày phần lớn T4 bị khử iod để tạo thành T3. Cuối cùng hormon đến và hoạt động trên tổ chức chủ yếu là T3.
Phần lớn các hormone T4 và T3 được kết hợp với protein huyết tương. T3,T4 tự do được đo trực tiếp bằng kỹ thuật miễn dịch phóng xạ, T4 tự do (f-T4) bằng 12 pmol/l, T3 tự do (f-T3) là 30pmol/l, đây chính là dạng hoạt động của hormon.
Chuyển hóa của hormon giáp
Mỗi ngày, tuyến giáp tiết ra khoảng 80 ug T4 và 25 ug T3, trong đó 1/3 lượng T3 do tuyến giáp trực tiếp tiết ra, phần còn lại là do sự khử iod của T4 ở các tế bào ngoại biên (gan thận và tuyên yên) mà thành. T3 có hoạt tính sinh học mạnh gấp 5 lần T4.
T4 có thời gian bán hủy là 7 ngày. Trong máu, T4 lưu hành dưới 2 thể:
- Thể tự do (FT4), có hoạt tính sinh học, chiếm 0,02% T4 toàn phần.
Thể gắn với protein, không có hoạt tính sinh học, chiếm 99,98% T4 toàn phần. Các protein gắn và vận chuyển hormone tuyến giáp bao gồm thyroxine binding globulin (TBG) (50%), TBPA (Thyroxin Binding PreAlbumin) và albumin.
T3 có thời gian bản hủy là 24h và nó sẽ được thải trừ hoàn toàn khỏi cơ thể sau 20 ngày. Trong máu, T3 cũng được lưu hành dưới 2 thể tự do và gắn với protein, trong đó dạng tự do (FT3), có hoạt tính sinh học, chiếm nhỏ hơn 1% T3 toàn phần.
Các hormon giáp được chuyển hóa chủ yếu ở gan và thận, và một phần ở não và các cơ.

Tác dụng sinh lý của các hormon giáp
Các hormon giáp tác động lên toàn bộ các tổ chức của cơ thể và các con đường chuyển hóa chính. Những hormon này rất cần thiết cho sự tăng trưởng, đặc biệt của bộ xương và hệ thần kinh trung ương.
- Làm tăng cung lượng tim, ảnh hưởng đến sự co bóp của ruột; điều khiển sự co cơ và sự chuyển hóa của creatinin. Hormon giáp còn có tác dụng gián tiếp đến sự sản xuất hồng cầu.
- Có vai trò quan trọng trong quá trình sinh nhiệt lượng, làm tăng nhiệt lượng bằng cách tăng tiêu thụ oxy.
- Kích thích tổng hợp lipid, nhất là sự huy động và sự thoái biến các chất này.
- Chuyển hóa glucid: ở nồng độ thấp chúng làm tăng sự tạo glycogen tại gan hoặc cơ, ở nồng độ cao chúng lại làm tăng phân hủy glycogen.
- Chuyển hóa protid: ở nồng độ thấp, hormon giáp làm tăng tổng hợp protein, còn nồng độ cao lại làm tăng dị hóa protein.
- Chuyển hóa của nước và các điện giải: chủ yếu làm tăng mức lọc cầu thận.
- Làm tăng chuyển hóa calci và phospho ở xương và cơ. Các tác dụng sinh lý có liên quan chặt chẽ đến sự tồn tại của những thụ thể đặc hiệu ở trong tế bào, đặc biệt là ở nhân tế bào. Ái tính của những thụ thể này đối với T3 mạnh gấp 5-10 lần so với T4. Điều này cắt nghĩa tác dụng hơn hẳn của T3, tuy vậy có lẽ vẫn có những thụ thể đặc hiệu riêng cho T4.
Điều hòa tiết hormon giáp
Hoạt động của tuyến giáp chịu sự điều khiển của vùng dưới đồi và tuyến yên. Sự tiết hormon giáp hoạt động theo cơ chế “feedback” âm. Trong tình trạng sinh lý, khi hormone giáp giảm thì TSH tăng lên và ngược lại.
Cả T3 và T4 đều tham gia vào cơ chế “feedback” âm. Tuy nhiên T3 chiếm ưu thế vì có những thụ thể có ái tính cao đối với nó ở thùy trước tuyến yên.

CÁC NGUYÊN NHÂN GÂY BƯỚU GIÁP
Bướu giáp lan toả
Là tình trạng tuyến giáp to lan toả, khối lượng tuyến giáp tăng trên 20% so với bình thường (> 35 g). Nguyên nhân phổ biến là:
- Bướu giáp trạng đơn thuần, bướu cổ đơn thuần.
- Viêm tuyến giáp mạn tính Hashimoto...
Bướu giáp nhân (đơn nhân hoặc đa nhân)
Thực chất là các khối u của tuyến giáp, nằm trên 1 hoặc cả 2 thuỳ, có thể nhìn thấy hoặc chỉ sờ thấy mà không nhìn thấy. Các nhân tuyến giáp này có thể đặc hoặc lỏng (chứa dịch, máu) và là lành tính hoặc ác tính.
Chú ý phân biệt cổ to (ví dụ do cơ ức đòn chũm...) tuyến giáp bình thường, không to.
KHÁM LÂM SÀNG TUYẾN GIÁP
Hỏi bệnh
Hỏi các dấu hiệu lâm sàng: bướu giáp thường hay xuất hiện trong các giai đoạn thay đổi sinh lý ở người phụ nữ như dậy thì, có thai, mãn kinh...
- Thời điểm, hoàn cảnh phát hiện bướu giáp hoặc thấy cổ to.
- Tiến triển của bướu giáp: to lên nhiều hay ít, nhanh hay chậm.
- Các triệu chứng cơ năng tại chỗ thường nghèo nàn và không đặc hiệu, ví dụ thấy cổ to, nuốt vướng, có cảm giác khó chịu ở vùng cổ.
Khám tuyến giáp
Nhìn: ở 2 hướng, từ phía trước và phía bên.
Bệnh nhân (BN) ngồi, cổ hơi ngửa. Nếu thấy cổ to, nghi là bướu cổ thì bác sỹ đề nghị BN nuốt và quan sát sự di động của vùng cổ to đó. Đồng thời quan sát có giãn các tĩnh mạch phần trên ngực không (tuyến giáp to vào trong trung thất).
Đánh giá: tuyến giáp có to không, có di động không, màu sắc da bên ngoài (ví dụ da đỏ có thể do viêm tuyến giáp cấp), có sẹo mổ vùng tuyến giáp không.
Sờ tuyến giáp
Khám từ phía sau: hai ngón cái đặt vào cột sống cổ, cố định đầu và cổ BN, 3 ngón tay sờ tuyến giáp. Mỗi tay khám 1 thuỳ tuyến.
Khám từ phía bên: một tay cố định cổ BN ở phía sau, một tay khám tuyến giáp. Ngón cái khám một thuỳ, 3 ngón còn lại (trừ ngón út) khám thuỳ đối diện.
Sau đó vẫn để tay trên tuyến giáp BN, và bảo BN nuốt. Bình thường sẽ thấy cả 2 thuỳ tuyến giáp di động lên xuống dưới tay. Sau khi sờ tuyến giáp, thì khám luôn các hạch vùng cổ (ức đòn chũm, thượng đòn).
Mục đích sờ để xác định kích thước, ranh giới, bề mặt thuỳ tuyến (đều lan tỏa hay có nhân) và mật độ tuyến giáp, có hạch cổ không.
Mật đồ mềm là bình thường; chắc hay gặp do bướu giáp đơn thuần lâu ngày hoặc viêm tuyến giáp mạn tính Hashimoto; cứng có thể do ung thư, viêm tuyến giáp Riedel, xơ hoá, calci hoá nang giáp...
Gõ: trên xương ức khi nghi tuyến giáp to trong lồng ngực: ít giá trị trong thực hành lâm sàng vì rất khó xác định.
Nghe tuyến giáp
Đặt ống nghe lên lần lượt thuỳ phải và thuỳ trái tuyến giáp. Có thể yêu cầu bệnh nhân nín thở trong khoảng 5 giây để có nghe rõ tiếng thổi hay không.
Đánh giá: có thể thấy tiếng thổi tâm thu hoặc thổi liên tục trong bệnh Basedow. Chú ý phân biệt với tiếng thổi động mạch cảnh, tiếng khí đi qua khí quản.
Đo tuyến giáp
Sử dụng thước dây đo vòng cổ để đánh giá mức độ to của toàn bộ tuyến giáp hoặc đo riêng kích thước từng thuỳ hoặc nhân giáp. Lấy đây là cơ sở để đánh giá giữa các lần khám.
Làm nghiệm pháp Pemberton
Trường hợp nghi ngờ có bướu giáp to nằm trong trung thất thì làm nghiệm pháp Pemberton: hướng dẫn BN ngồi trên ghế, mắt nhìn thẳng, từ từ đưa 2 tay lên trời, yêu cầu là 2 tay thẳng song song, 2 lòng bàn tay quay vào trong, giữ nguyên tay ở vị trí đó khoảng 5 phút. Thầy thuốc quan sát nét mặt BN, phát hiện xem BN có bị khó thở hay tím tái không?
Kết luận
- Tuyến giáp của BN có to không (BN có bướu cổ không)? To lan tỏa hay có nhân?
Mức độ to của tuyến giáp (áp dụng cho bướu lan toả), theo Tổ chức Y tế thế giới:

CÁC PHƯƠNG PHÁP THĂM DÒ CẬN LÂM SÀNG TUYẾN GIÁP
Thăm dò hình thái
Siêu âm tuyến giáp
Là thăm dò rất phổ biến hiện nay. Sử dụng đầu do 7,5 mHz giúp xác định chính xác vị trí tuyến giáp, kích thước từng thùy tuyến, phát hiện các nhân tuyến giáp, nhất là các nhân nhỏ hoặc nhân nằm ở phía sau, khó sờ thấy trên lâm sàng. Các giá trị khác của siêu âm:
- Sử dụng siêu âm đầu dò Doppler giúp phát hiện hình ảnh tăng tín hiệu mạch, gợi ý bệnh Basedow.
- Phát hiện các dấu hiệu gợi ý ung thư tuyến giáp: nhân giảm âm, bờ không đều, có calci hóa nhỏ trong nhân...
Thăm dò tuyến giáp bằng chất đồng vị phóng xạ
Sử dụng các chất đồng vị phóng xạ cho chúng ta các dữ liệu:
- Về hình ảnh tuyến giáp khi khảo sát bằng cách chụp tia lấp lánh.
Về chức năng tuyến giáp khi đo độ tập trung chất phóng xạ tại tuyến giáp.
Xạ hình (Scintigraphy) tuyến giáp, thường kết hợp với đo độ tập trung I131.
Chỉ định để phân biệt nguyên nhân gây cường giáp, không chỉ định cho bệnh nhân suy giáp. Chống chỉ định ở phụ nữ có thai và cho con bú. yA
Chất đồng vị phóng xạ được sử dụng là I131được tế bào nang giáp bắt giữ và phát ra tia gamma. Các tia này, được ghi nhận bởi một thiết bị là gamma camera, sẽ được biến đổi thành các tín hiệu điện, và được chuyển vào một máy tính. Máy tính này sẽ tạo ra hình ảnh có màu sắc hay độ xám khác nhau tương ứng với những tín hiệu thu nhận có cường độ khác nhau.
Cho người bệnh uống 4-10 PCĨ I131 vào buổi sáng lúc đói, sau đó ghi hình tuyến giáp sau 2h, 6h và 24h đánh giá sự phân bố I131 tại tuyến giáp. Ghi xạ hình tuyến giáp có thể:
Cho biết sự phân bố iod tại tuyến giáp: phân bố đều, hay tập trung toàn bộ tại một hay nhiều nhân tuyến giáp (nhân nóng trong bướu đơn hoặc đa nhân độc), hay có vùng trống iod (nhân lạnh, có thể là nang tuyến giáp, hoặc có thể ung thư tuyến giáp).
- Phát hiện phần tuyến giáp còn sót lại sau phẫu thuật cắt toàn bộ tuyến giáp điều trị ung thư tuyến giáp.
- Nếu làm xạ hình toàn thân có thể phát hiện tuyến giáp lạc chỗ (ở gốc lưỡi hoặc trong lồng ngực), hoặc các ổ di căn ung thư tuyến giáp (tới xương, phổi...).
Đồng thời với ghi xạ hình có thể đo độ tập trung I131, cho biết tỷ lệ iod được tuyến giáp bắt giữ, nó phản ánh chức năng tuyến giáp và thường tỷ lệ thuận với tốc độ tổng hợp hormon giáp. Độ tập trung cao trong bệnh Basedow và thấp trong bệnh viêm tuyến giáp.
Có thể thay I131 bằng I123 để thời gian làm xạ hình ngắn hơn và an toàn hơn nhưng đắt tiền hơn. Hoặc sử dụng Tc99m (tiêm tĩnh mạch) cũng có thời gian làm xạ hình ngắn hơn, an toàn hơn nhưng lại kém chính xác hơn so với I131.
Thăm dò chức năng
Xét nghiệm miễn dịch
Định lượng hormon tuyến giáp
- Xét nghiệm TSH theo phương pháp miễn dịch phóng xạ không cạnh tranh (IRMA). Giá trị bình thường của TSH = 0,27 - 4,2 mU/mL. TSH là xét nghiệm nhạy nhất trong đánh giá chức năng tuyến giáp, TSH tăng trong suy giáp tiên phát và giảm trong cường giáp hoặc suy tuyến yên gây suy giáp.
- Xét nghiệm T3, T4 toàn phần ít được chỉ định so với xét nghiệm FT3 và FT4. Theo phương pháp miễn dịch phóng xạ cạnh tranh (RIA), giá trị bình thường của FT3 = 3,5 - 6,5 pmol/L, và FT4 = 12 - 22 pmol/L. FT3 và FT4 tăng trong cường giáp, giảm trong suy giáp.
- Xét nghiệm T3, T4 toàn phần ít được chỉ định so với xét nghiệm FT3 và FT4. Theo phương pháp miễn dixhj phóng xạ cạnh tranh (RIA), giá trị bình thường của FT3
Xét nghiệm các kháng thể trong bệnh tuyến giáp
- Kháng thể kháng thụ thể TSH (TRAb). TRAb thường tăng trong bệnh Basedow.
- Kháng thể kháng enzyme Peroxidase (Anti TPO). Anti TPO tăng trong các bệnh tuyến giáp tự miễn, phổ biến nhất là viêm tuyến giáp mạn tính Hashimoto.
- Kháng thể kháng Thyroglobulin (Anti Tg) thường tăng trong bệnh tuyến giáp tự miễn và có giá trị theo dõi ung thư tuyến giáp tái phát sau cắt toàn bộ tuyến giáp.
Xét nghiệm sinh hóa
- Cholesterol và triglyceride máu giảm trong cường giáp và tăng trong suy giáp.
- Glucose máu tăng trong cường giáp, nhưng ít khi gây đái tháo đường.
- Men CK có thể tăng trong suy giáp.
- Định lượng iod niệu:
- Iod niệu < 100 pg/L: nghĩ đến thiếu
- Iod niệu > 200 pg/L: nghĩ đến thừa iod.
Giải phẫu bệnh và tế bào học
Do tuyến giáp là một tuyến nội tiết nông nên xét nghiệm tế bào học tuyến giáp ngày càng được thực hiện nhiều, nhất là chọc hút tế bào nhân giáp bằng kim nhỏ dưới hướng dẫn của siêu âm. Xét nghiệm này cho phép chẩn đoán chính xác tới trên 90% các ung thư tuyến giáp.
Xét nghiệm tế bào học còn có giá trị trong chẩn đoán viêm tuyến giáp mạn tính Hashimoto (thấy nhiều bạch cầu lympho), viêm tuyến giáp cấp (thấy bạch cầu hoại tử), viêm tuyến giáp bán cấp.
Chống chỉ định chọc tế bào nhân giáp khi bệnh nhân đang có cường giáp.
Một số thăm dò khác
- Điện tim: cường giáp có nhịp tim nhanh, ngoại tâm thu, loạn nhịp. Suy giáp có nhịp tim chậm, điện thế thấp.
- Siêu âm tim.
- Chụp vùng cổ và trung thất (XQ thường quy hoặc cộng hưởng từ) trong những trường hợp bướu giáp rất lớn để đánh giá xem có xâm lấn trung thất, chèn ép khí quản và có nốt vôi hoá không.
CHẨN ĐOÁN
Chẩn đoán bướu giáp (bướu cổ)
Nếu nhìn và/hoặc sờ thấy một khối u nằm ờ vùng giáp trạng di động theo nhịp nuốt thì có thể gần như chắc chắn là một bướu giáp trạng nhưng cần phân biệt với:
- Hạch ở cổ: hạch nằm sát dưới da, giới hạn tương đối rõ rệt, mật độ thường chắc hơn tuyến giáp trạng và không di động theo nhịp nuốt.
- Mô mỡ dưới da: nhiều khi không giống như bướu giáp trạng, nhưng rất mềm, không giới hạn rõ rệt và không di động theo nhịp nuốt. Nếu không rõ có thể dựa vào kết quả siêu âm tuyến giáp.
Chẩn đoán nguyên nhân bướu cổ: khá phức tạp
Cường giáp
- Basedow: bướu giáp lan tỏa, thường độ IB, di động, nghe có thể có tiếng thổi liên tục hoặc thổi tâm thu.
- Bướu (đơn hoặc đa) nhân độc: sờ thấy một hoặc vài nhân lớn, di động. Hay gặp ở người già.
Suy giáp
- Bướu giáp to thường là bướu cổ do thiếu iod, viêm tuyến giáp mạn tính Hashimoto giai đoạn đầu.
- Có thể không sờ thấy tuyến giáp: tuyến giáp lạc chỗ, sau phẫu thuật hoặc điều trị I131.
Bướu giáp đơn thuần: là loại u giáp trạng lành tính, quá sản tổ chức tuyến do thiếu iod. Hiện bệnh hiếm gặp do đã có chương trình bổ sung muối iod.
Bướu nhân tuyến giáp: gặp ở nữ nhiều hơn nam, tăng lên theo tuổi. Các nhân có thể to, sờ thấy được nhưng cũng có thể nhỏ, chỉ phát hiện được bằng siêu âm tuyến giáp.
Viêm tuyến giáp
- Viêm cấp (viêm mủ): bướu giáp sưng nóng đỏ đau, thường 1 bên, kèm theo triệu chứng nhiễm khuẩn. Bắt buộc phải điều trị kháng sinh và chọc dẫn lưu.
- Viêm bán cấp: bướu giáp sưng đau, 1 hoặc cả 2 bên, kèm theo sốt cao, có thể có triệu chứng của nhiễm độc giáp. Đáp ứng rất tốt với thuốc corticoid và/hoặc thuốc chống viêm giảm đau non-steroid.
- Viêm tuyến giáp mạn tính Hashimoto: bướu to vừa, lan toả, lúc đầu mềm nhưng về sau hơi chắc (như cao su). Giải phẫu bệnh học: nhiều tế bào lymphô xâm nhập trong tuyến. Thường tiến triển đến suy giáp sau nhiều năm.
- Viêm tuyến giáp mạn tính Riedel: hiếm gặp. Bướu giáp to, cứng như gỗ, thường gây chèn ép khí phế quản. Tuyến giáp bị xâm nhập bởi tế bào plasmo và tế bào lymphô, xơ hoá nhiều, làm chức năng tuyến giảm nhiều.
