Cận lâm sàng trong niệu học gồm có:
- Các xét nghiệm về labo: Xét nghiệm về nước tiểu, xét nghiệm về máu
- Các hình ảnh y khoa: Siêu âm, X quang, chụp điện toán cắt lớp, đồng vị phóng xạ
- Các khám nghiệm đặc biệt như nội soi
Các xét nghiệm cận lâm sàng nhằm bổ sung thêm cho lâm sàng, và cần được kết hợp với nhau để giúp xác định chẩn đoán. Một điều cần nhấn mạnh là cận lâm sàng một mình không thể cho được chẩn đoán, và phải được kết hợp với lâm sàng, gồm thăm khám và theo dõi quá trình bệnh sử, và trong một số trường hợp khó, phải theo dõi diễn tiến của bệnh mới có thể chẩn đoán được chính xác. Xu hướng chỉ dựa vào cận lâm sàng đơn thuẩn để chẩn đoán là một sai lẫm cơ bản, vì một giải pháp cận lâm sàng, dù có hiện đại đến đâu cũng có mặt hạn chế của nó.
I. CÁC XÉT NGHIỆM VỀ LABO
Gồm có xét nghiệm về nước tiểu và về máu.
A. XÉT NGHIỆM NƯỚC TIỂU
Là xét nghiệm đầu tiên phải làm, vì nó cơ bản nhất và dễ thực hiện nhất. Những điểm cần được xác định qua khám nghiệm về nước tiểu gồm có:
- Xác định tính chất lý học.
- Xét nghiệm sinh hóa.
- Xét nghiệm cặn lắng nước tiểu.
- Xét nghiệm về vi trùng.
1. Xác định tính chất lý học
a. Khối lượng
Trung bình có từ 1 lít đến 1,5 lít nước tiểu trong 24 giờ. Khối lượng này có thể tăng hay giảm tùy theo người bệnh uống nước nhiều hay ít, có dùng thuốc lợi tiểu hay không. Nếu khối lượng trên 3 lít trong 24 giờ là có dấu hiệu đa niệu. Nếu ít hơn 800ml là bắt đầu có thiểu niệu. Ít hơn 500ml là thiểu niệu nặng, và ít hơn 200ml là được coi như vô niệu và phải được điểu trị một cách tích cực.
b. Màu sắc
Bình thường nước tiểu trong, có màu vàng nhạt.
Nước tiểu sẽ trắng đục trong trường hợp có nhiều cặn Phosphate, có mủ hoặc có đái ra dưỡng chấp.
Nếu nước tiểu có cặn phosphate: Cho acide acétique thì nước tiểu sẽ trong trở lại.
Nếu nước tiểu có mủ: Khi để yên, lớp mủ sẽ lắng xuống dưới và lớp nước tiểu trong sẽ nổi lên phía trên.
Nước tiểu có dưỡng chấp sẽ có màu trắng đục, và không lắng làm hai lớp khi để yên.
Nước tiểu sẽ có màu đỏ hoặc hồng trong trường hợp tiểu máu hay tiểu ra hémoglobine (huyết sắc tố).
Nếu đái ra máu thì nước tiểu sẽ lắng làm hai lớp, hồng cầu sẽ lắng phía dưới.
Nếu đái ra hémoglobine, nước tiểu sẽ đỏ đều và không lắng thành hai lớp. Tuy nhiên trong trường hợp tiểu máu vi thể, cần làm xét nghiệm tế bào mới phát hiện có nhiều hồng cầu trong nước tiểu.
c. Tỷ trọng nước tiểu
Từ 1,015-1,025.
Bình thường nước tiểu ban đêm cô đặc nhiểu hơn ban ngày, nên người bình thường, lúc đi ngủ không phải thức dậy để đi đái hoặc chỉ đi đái một lẫn.
Nếu tỷ trọng nước tiểu giữa ban ngày và ban đêm gần bằng nhau, chứng tỏ chức năng cô đặc và pha loãng của thận đã suy giảm.
2. Xét nghiệm sinh hóa
Những chất bình thường không có trong nước tiểu là protéine (đạm niệu), glucose (đường niệu), thể cétone, hémoglobine, sắc tố mật và muối mật.
- Proteine sẽ xuất hiện trong nước tiểu trong trường hợp đái mủ, đái máu. Đặc biệt trong trường hợp bệnh lý ở cầu thận, proteine có thể xuất hiện với nổng độ lớn: Từ 200 - 500mg/dl.
- pH nước tiểu bình thường từ 5,5 đến 6,5. Nếu pH nước tiểu dưới 5,5 thì chất acid uric sẽ kết tủa: Có thể gặp trong trường hợp sõi acid uric. Nếu pH trên 7 thì chất phosphate sẽ kết tủa, thường gặp trong trường hợp nhiễm trùng niệu. Vi trùng Proteus có tiết ra men urease, làm phân hủy urê thành amoniac làm kiềm hóa nước tiểu.
3. Xét nghiệm cặn lắng nước tiểu
Bằng cách lắng nước tiểu, đem ly tâm và soi kính hiển vi để xem cặn lắng (hình 1, 2).
Có thể thấy:
a. Các trụ
- Trụ hình đơn do chất albumine kết đọng lại trong ống thận (trong viêm cầu thận).
- Trụ hình hạt.
- Trụ tế bào: Hồng cầu, bạch cầu.

Các trụ được hình thành từ ống thận và sau đó đi theo dòng nước tiểu để ra ngoài. Sự hiện điện của các trụ hỗng cầu chứng tỏ có viêm cầu thận.
b. Các tế bào
Các tế bào biểu mô của bàng quang hay niệu đạo không có giá trị.
Các tế bào biểu mô ống thận có nhiều trong. một số trường hợp viêm thận.
Có thể tìm thấy tế bào ung thư của niêm mạc đường tiết niệu, nhất là trong trường hợp ung thư bàng quang. Muốn tìm tế bào của ung thư niêm mạc bàng quang, cần lấy nước súc rửa bàng quang đem ly tâm và nhuộm theo phương pháp Papanicolaou để phát hiện.
c. Tìm vi trùng
Có thể tìm bằng phương pháp trực tiếp:
- Nhuộm Gram đối với vi trùng thường.
- Nhuộm Ziehl Neelsen đối với vi trùng lao.
Tìm bằng phương pháp nuôi cấy:
- Cấy trên môi trường thường: Tìm vi trùng thường. Tiêu chuẩn nhiễm trùng niệu dựa vào số lượng khuẩn lạc đếm được sau khi cấy 1ml nước tiểu.
- > 105, có nhiễm trùng niệu
- Từ 10 đến 105, nghi ngờ
- < 104, vấy trùng, không có nhiễm trùng niệu
- Nếu nuôi cấy được vi trùng cần làm thêm kháng sinh đồ để hướng dẫn cách điểu trị.
Cấy trên môi trường Lowenstein: Tìm vi trùng lao (vì vi trùng lao không mọc trên môi trường thường).
d. Các tinh thể
Có thể tìm thấy các tinh thể phosphat, oxalat, urat. Các tỉnh thể này chỉ có giá trị tương đối. Chúng thường xuất hiện khi có hiện tượng nước tiểu được cô đặc như trong trường hợp bệnh nhân uống ít nước. Chúng không có ý nghĩa là bệnh nhân có sỏi niệu.
B. CÁC XÉT NGHIỆM VỀ MÁU
Thận có chức năng đào thải các chất cặn bã được sản sinh ra trong quá trình chuyển hóa. Ngoài ra thận còn có chức năng giữ thăng bằng nội môi (điện giải, độ kiểm-toan của máu). Do đó các xéi nghiệm về máu cần làm gồm có:
- Đo Urê và Créatinine trong máu.
- Đo các chất điện giải.
- Đo dự trữ kiểm.
Ngoài ra trong một số trường hợp bướu đường niệu còn có thể tìm thấy một số chất được gọi là chất "chỉ điểm sinh học" (Indicateurs biologiques).
1. Urê
Là chất được hình thành ở giai đoạn cuối của quá trình chuyển hóa chất đạm và sẽ được thận đào thải hết. Thông thường, khi có > 2/: số cầu thận bị hư hại thì urê huyết mới bắt đầu tăng, vì vậy uré huyết không phản ảnh sớm chức năng thận bằng créatinine huyết.
Urê huyết bình thường từ 20-40mg/dl. Trong trường hợp suy thận urê sẽ >50mg/dl (tương đương với BUN >25mg/dl).
2. Créatinine
Là chất được sản sinh từ chất créatine của các cơ bắp và được đào thải toàn bộ qua thận. Vì créatinine là chất được hình thành qua quá trình chuyển hóa trong cơ thể nên không bị ảnh hưởng bởi chế độ ăn uống. Vì vậy, sự tăng giảm của créatinine phản ảnh trung thành chức năng thanh thải của thận.
Tỷ số trung bình từ 0,8-1,5 mg/dl.
3. Các chất điện giải trong máu
Natri, trị số bình thường là 135-150 mEq/1.
Kałi, trị số bình thường là 3,5-5 mEq/l.
Clo, trị số bình thường là 98-110 mEq/1.
Canxi, trị số bình thường là 4,5-5,5 mEq/l.
Đặc biệt trong niệu học cẩn chú ý Kali. Nó sẽ tăng nhanh trong suy thận cấp. Nếu tăng >6,5mEq/l sẽ ảnh hưởng đến nhịp đập của tim (xem bài vô niệu do sỏi ở phần sau).
4. Thăng bằng kiểm toan
Sự rối loạn thăng bằng kiểm toan thường xảy ra trong suy thận. Đánh giá bằng hai cách:
- Đo pH của máu: Bình thường là 7,38-7,44.
- Đo đự trữ kiểm bằng cách đo CO2 trong máu, bình thường là 21-30 mmol/1.
5. Các chất chỉ điểm sinh học
Trong một số trường hợp bướu của đường niệu, trong máu sẽ xuất hiện một số chất lạ mà bình thường không tìm thấy. Các chất này có giá trị lớn trong chẩn đoán, nên còn được gọi là các chất chỉ điểm sinh học. Thường dùng trong niệu khoa có:
- PSA (Prostatic Specific Antigen): Bình thường <4ng/ml. Trong bướu lành tiền liệt tuyến, PSA có thể tăng đến 10ng/ml. Trong bướu ác, có thể tăng >10ng/ml.
- B-HCG (Beta Human Chorionic Gonadotropin): Bình thường <3,5ng/ml, sẽ tăng trong bướu ác tinh hoàn.
- AFP (Alpha Foeto Protein): Bình thường từ 20-30ng/ml, sẽ tăng trong ung thư tinh hoàn và ung thư gan.
II. HÌNH ẢNH Y KHOA
A. X QUANG BỘ NIỆU
Gồm có X quang bộ niệu không chuẩn bị, X quang bộ niệu có tiêm thuốc cản quang vào tĩnh mạch (UIV) và X quang có bơm thuốc cản quang ngược chiều.
1. X quang bộ niệu không chuẩn bị
Chuẩn bị bệnh nhân: Phẩi thụt tháo cho sạch phân và hơi trong ruột già. Muốn cho hết hơi trong ruột già, cần phải thụt tháo từ 3 đến 5 giờ trước khi chụp phim, vì khi thụt tháo bệnh nhân sẽ đi ra nước và phân, còn hơi sẽ sót lại và bệnh nhân phải đi ra từ từ qua nhu động ruột. Nếu sạch được phân và hơi, phim sẽ rõ ràng, không có những hình ảnh giả gây nên đo phân hoặc hơi làm cho hình ảnh của bộ niệu bị che lấp.
Cẩn chụp phim lớn, lấy cả hai thận, niệu quản và lấy hết được bàng quang. Chụp phim lúc bệnh nhân nằm ngửa và nhịn thở. Một phim chụp tốt sẽ cho thấy được bóng của hai thận và qua đó có thể biết được kích thước của thận.
Tiêu chuẩn của một phim tốt là phải thấy được bóng của hai cơ thăn (psoas).
Phim chụp không chuẩn bị sẽ cho thấy được sỏi cản quang của hệ niệu: Ngoài ra còn thấy được các đốt sống lưng và xương chậu, cho nên có thể phát hiện được các điểm di căn của bướu ác tiền liệt tuyến.
Có hai trường hợp cẩn phải chẩn đoán phân biệt là:
- Sỏi túi mật thể cản quang: Sỏi túi mật sẽ chổng lên bóng thận, muốn phân biệt phải chụp thêm phim nghiêng. Trên phim nghiêng sỏi túi mật sẽ ở phía trước, còn sỏi thận nằm ở phía sau, sát với cột sống.
- Những hạch hay tĩnh mạch bị vôi hóa ở chậu hông bé thể hiện bằng những điểm tròn đều, nằm sát xương chậu. Muốn chẩn đoán phân biệt phải chụp phim có tiêm cản quang (UIV). Những điểm vôi hóa sẽ nằm ngoài niệu quản. X quang bộ niệu không chuẩn bị bao giờ cũng phải được chụp trước khi làm UIV, vì khi chụp UIV, thuốc cản quang được bài tiết qua thận sẽ che lấp các hình ảnh sỏi.
Cần thận trong khi chụp phim cho phụ nữ có mang ở 3 tháng đầu vì tia X nguy hại cho thai nhi. Trong trường hợp này siêu âm có thuận lợi hơn mặc dù độ chính xác có kém hơn.
2. X quang bộ niệu có tiêm thuốc cản quang (Urographie Intra Veinneuse-UIV)
Nguyên tắc của phương pháp này là tiêm vào tĩnh mạch một loại thuốc cản quang có chứa chất Iốt và tan trong nước. Thuốc sẽ được bài tiết qua thận và nhờ thận cô đặc nước tiểu nên sẽ nhìn thấy được thuốc cản quang trong các đài thận, bể thận, niệu quản và bàng quang.
Tùy chức năng của thận tốt nhiểu hay ít, thuốc sẽ hiện hình trong đài bể thận sớm hay muộn, đậm hay lợt, và như vậy có thể nhìn thấy được đài bể thận, niệu quản bàng quang và các biến dạng bệnh lý của nó. Như vậy UIV, ngoài việc cho biết hình ảnh của đường tiết niệu, còn cho biết được chức năng hoạt động của thận mà các phương pháp khác không cho biết được.
Sự đậm đặc của thuốc cản quang được bài tiết qua thận phụ thuộc vào chức năng của thận. Do đó, nếu chức năng cô đặc của thận quá kérn, thuốc cản quang sẽ không hiện hình trên phim chụp. Thận không hiện hình trên phim UIV gọi là thận câm. Thận câm không có nghĩa là thận chết, vì nó vẫn còn bài tiết nhưng với đậm độ cô đặc thấp, không đủ để các đài bể thận hiện hình trên phim. Vì vậy, nếu chức năng thận dự kiến là kém, thể hiện Urê/máu >0,8g/l hay BUN >40mg/dl thì chụp UIV sẽ không đem lại kết quả (hình 3, 4).

Trước khi chụp UIV phải thử phản ứng của bệnh nhân đối với thuốc cản quang.
a. Chỉ định
Trong tất cả các trường hợp bệnh lý của bộ niệu, khi cần chẩn đoán phân biệt hay chẩn đoán nguyên nhân.
Thuốc cản quang rất ít độc, kể cả trong trường hợp chức năng của thận bị suy giảm. Trong trường hợp này thuốc sẽ được thanh thải dẫn qua thận và một phẩn được thanh thải qua gan.
b. Chống chỉ định
- Bệnh nhân có phản ứng với thuốc cản quang khi thử test
- Bệnh đa bướu tủy xương (myélome multiple)
- Bệnh nhân có mang trong 3 tháng đầu
c. Không có chỉ định
Urê/máu >1g/1, vì nếu chụp UIV trong trường hợp này thận cũng sẽ không hiện hình.
d. Cách chụp phim
Trung bình, cần tiêm 1ml/kg thuốc cản quang vào tĩnh mạch. Cần tiêm nhanh, sau khi đã thử test và phút thứ nhất được tính vào lúc bắt đầu tiêm thuốc nhanh.
- Chụp phim 5 phút: Mục đích để thấy hình ảnh của chủ mô thận. Trong thời điểm này, thuốc còn được tập trung cao trong chủ mô thận nên khi chụp phim sẽ thấy rõ hình ảnh của thận.
- Chụp phim từ 7 - 10 phút: Thuốc sẽ bắt đầu xuất hiện ở đài bể thận. Nếu xuất hiện muộn hơn, chứng tỏ chức năng thận bắt đầu suy kém.
- Ép hai niệu quản để giữ thuốc trong đài bể thận và niệu quản phần trên chỗ được ép.
- Chụp phim 15 và 30 phút. Cho rửa phim ngay và đọc kết quå.
- Nếu hình ảnh xuất hiện tốt, cho tháo ép và sau khi tháo ép từ 3 đến 5 phút, chụp một phim lớn để thấy phần cuối của niệu quản. Nếu chựp muộn hơn 5 phút, thuốc sẽ xuống đẩy bàng quang và che lấp mất phần cuối của niệu quản.
- Nếu cần xem hình ảnh rõ nét của bàng quang, chụp phim 10 phút sau khi tháo ép: Sẽ thấy được các hình ảnh của bướu bàng quang, bướu tiển liệt tuyến, bàng quang chống đối, túi ngách bàng quang...
- Nếu muốn khảo sát thêm:
- Chụp phim lúc bệnh nhân đang rặn đi tiểu để phát hiện dấu hiệu trào ngược nước tiểu lên niệu quản.
- Chụp phim sau khi bệnh nhân đái xong để đo số lượng nước tiểu tồn lưu.
- Nếu thấy có một thận câm do bế tắc (sỏi bể thận-niệu quần, niệu quản bị chèn ép do bướu...), cần chụp phim muộn, tức là 2 giờ, 4 giờ, 10 gið sau, có thể thấy thận bị bế tắc, có bài tiết thuốc cản quạng, chứng tỏ chức năng thận vẫn còn và thận sẽ phục hồi sau khi giải quyết bế tắc.
3. Chụp X quang ngược chiểu có thuốc cản quang
a. Chụp niệu đạo-bàng quang ngược chiều (Urétro-Cystographie Rétrograde)
- Chụp niệu đạo ngược chiều: Cho vào niệu đạo một thông Foley nhỏ, bơm nhẹ bong bóng để chèn niệu đạo, sau đó bơm vào niệu đạo 20ml thuốc cản quang sẽ phát hiện được các trường hợp hẹp niệu đạo, vỡ niệu đạo...
- Chụp bàng quang ngược chiều: Cho thông Nélaton hay thông Foley vào đến bàng quang, đo dung tích bàng quang và lấy hết nước tiểu trong bàng quang, bơm 30-40 ml thuốc cần quang vào bàng quang, rút thông ra và chụp phim, sẽ phát hiện được các trường hợp bướu bàng quang, bướu tiển liệt tuyến... Không nên bơm thuốc đầy bàng quang vì bàng quang đẩy sẽ che lấp mất bướu.
b. Chụp niệu quản-bể thận ngược chiều (Urétéro-Pyélographie Rétrograde)
Phương pháp này phải được tiến hành tại Trung tâm niệu khoa phải cần đến các phương tiện chuyên khoa.
Dùng máy nội soi bàng quang cho vào niệu quản một thông niệu quản sau đó bơm vào niệu quản qua ống thông 7-10ml thuốc cản quang sẽ thấy được các hình ảnh đài bể thận rất rõ vì ở đây dùng thuốc cản quang nguyên chất nên có độ cản quang cao. Ngoài ra phương pháp này sẽ phát hiện được các trường hợp bướu đường niệu trên hay các sỏi không cản quang, nhất là trong trường hợp thận câm trên UIV (hình 5,6).

B. SIÊU ÂM BỘ NIỆU
Siêu âm là một phương pháp thăm khám vô hại, không phải can thiệp vào người bệnh nhân, ít tốn kém, có thể làm đi làm lại nhiều lần để theo dõi diễn tiến của bệnh. Tuy nhiên, trong niệu khoa, siêu âm chỉ có tác dụng hạn chế, các thông tin thu thập được thường không đặc hiệu, cho nên có tính chất thăm dò ban đầu để phát hiện các thương tổn. Nếu muốn có những hình ảnh chính xác với độ tin cậy cao, có thể làm căn cứ để chỉ định phẫu thuật thì phải dựa vào các phương pháp khác như X quang, CT-scan (chụp điện toán cắtlớp) hay MRI (cộng hưởng từ).
Đối với thận, siêu âm có thể đo được kích thước của thận, xác định vị trí như trường hợp thận teo nhỏ, bướu thận, thận chướng nước... Ngoài ra, siêu âm có thể phát hiện được sỏi niệu nhất là sởi không cần quang, nang thận, thận đa nang.
Siêu âm có thể đo được chiều dày của chủ mô thận. Trong trường hợp thận lớn siêu âm có thể phân biệt được nang thận hay bướu thận.
Trong trường hợp chấn thương thận, siêu âm có thể phát hiện được tụ dịch quanh thận, giúp chẩn đoán phân biệt giữa chấn thương thận hay vỡ gan, vỡ lách.
Siêu âm có thể phát hiện được sỏi niệu quần và niệu quần bị dãn nở phía trên hòn sỏi.
Đối với bàng quang, siêu âm có thể phát hiện bướu bàng quang, sởi bàng quang, đo dung tích và khối lượng nước tiểu tồn lưu.
Đối với tiền liệt tuyến, có thể đo được kích thước của tiền liệt tuyến, rất có lợi trong trường hợp thùy giữa, mà thăm khám qua đường trực tràng không đánh giá được.
C. CHỤP ĐIỆN TOÁN CẮT LỚP (CT-scan)
CT-scan cho những hình ảnh rất đẹp của bộ niệu, rất có lợi trong trường hợp bướu. Mặc dù giá thành cao, nhưng CT-scan là một giải pháp rất cần thiết để chẩn đoán các trường hợp bướu thận, bướu sau phúc mạc. CT-scan cho thấy độ xâm lấn của bướu vào các cơ quan lân cận và nhờ đó có thể quyết định được bướu còn ở trong giai đoạn phẫu thuật được hay không.
Có thể kết hợp tiêm thuốc cản quang vào tĩnh mạch lúc chụp CTscan để phân biệt các loại bướu ác tính, được tiếp nhiểu máu, hay các ổ áp xe, các nang, hay các loại bướu khác ít được tiếp huyết. Các sỏi không cản quang cũng được phát hiện.
CT-scan cho nhiễu hình ảnh cắt lớp từ trên đến dưới, hết cả cơ quan tiết niệu và các cơ quan kế cận như cơ quan sinh dục ở nữ.
D. CHỤP BẰNG PHƯƠNG PHÁP CỘNG HƯỞNG TỪ (MRI: Magnetic Resonance Imaging)
MRI cho những hình ảnh giống như CT-scan, nhưng cho những lớp cắt ở nhiều tư thế hơn CT-scan. Ngoài ra MRI còn phân biệt được các trường hợp bướu được tiếp huyết nhiều hay ít, rất có lợi trong chẩn đoán bướu thận, nhất là bướu ác có nhiều mạch máu tăng sinh.
E. CHỤP BỘ NIỆU BẰNG ĐỒNG VỊ PHÓNG XẠ
Thuốc có chứa đồng vị phóng xạ được tiêm vào mạch máu. Thuốc sẽ được tập trung ở thận và bài tiết qua nước tiểu. Tùy chức năng của thận tốt hay xấu, thuốc sẽ được tập trung ở thận nhiều hay ít, sớm hay muộn. Sau đó thuốc sẽ vào đài bể thận, niệu quản và xuống bàng quang. Vì có chất đồng vị phóng xạ nên khi thuốc được tập trung trong đường tiết niệu, thuốc sẽ phát ra tia xạ sẽ được một máy có đầu dò tia xạ chuyển thành hình ảnh (xạ hình), nhờ vậy, chụp đồng vị phóng xạ có thể cho biết:
Khả năng tập trung phóng xạ của thận tùy theo chức năng của thận tốt hay xấu.
Hình dáng của thận: Thận lạc chỗ, thận hình móng ngựa... và vùng chủ mô thận bị hư hại sẽ không tập trung được chất phóng xạ (như bướu, nang, vùng thận bị chấn thương).
Hình ảnh của đường tiết niệu: Bể thận, niệu quản, bàng quang.
III. NỘI SOI ĐƯỜNG NIỆU
Nội soi là một khám nghiệm rất cần thiết trong niệu khoa, gồm có:
- Nội soi niệu đạo
- Nội soi bàng quang
- Nội soi và chụp niệu quẩn ngược chiều
- Những thủ thuật qua nội soi
Nguyên tắc là cho một máy nội soi vào đường niệu, và máy cho phép nhìn vào chỗ thương tổn bên trong đường niệu.
A. NỘI SOI NIỆU ĐẠO-TIỀN LIỆT TUYẾN
Cho phép nhìn thấy chỗ niệu đạo bị hẹp, các trường hợp bướu niệu đạo. Trong trường hợp bướu tiển liệt tuyến, sẽ thấy được hai thùy bên và thùy giữa của bướu, thấy được lỗi tinh và van niệu đạo sau.
B. NỘI SOI BÀNG QUANG
Thấy được niêm mạc bị viêm hay bị loét, thấy được hình dạng của hai lỗ niệu quản và nước tiểu phun ra từ lỗ niệu quần. Nếu nước tiểu được phun ra có lẫn mủ hoặc máu, sẽ chứng tỏ có thương tổn của đường niệu ở phía trên.
Nội soi bàng quang còn cho phép phát hiện các trường hợp có vật lạ trong bàng quang (như sỏi) hay bướu bàng quang. Nội soi sẽ xác định được vị trí của bướu so với hai lỗ niệu quản, bướu thể thâm nhiễm hay bướu có cuống và đồng thời có thể làm sinh thiết bướu qua nội soi (hình 7,8).

C. CHỤP THẬN-NIỆU QUẢN NGƯỢC CHIỀU
Qua máy nội soi có thể luồn một ống thông lên niệu quản và chụp thận-niệu quản ngược chiều. Có thể cho một dụng cụ nong rỗng lỗ niệu quản và cho vào một máy soi niệu quần.
D. NỘI SOI NIỆU QUẢN
Dùng ống soi cứng hoặc mềm, có kích thước nhỏ, nhưng rất dài, có thể cho vào niệu quản qua máy nội soi bàng quang. Qua nội soi niệu quản có thể thấy được sỏi niệu quản ở đoạn chậu và có thể phá sỏi tại chỗ nhờ có một máy phá sỏi bằng sóng chấn động.
E. CẮT ĐỐT NỘI SOI
Máy nội soi có thể được trang bị một bộ phận cắt đốt, có thể cắt đốt bướu tiển liệt tuyến hay các loại bướu nhỏ ở bàng quang.
Tóm lại, cận lâm sàng giúp rất nhiểu trong chẩn đoán các bệnh niệu khoa. Đặc biệt trong trường hợp bướu, cận lâm sàng cho những yếu tố có tính chất quyết định để chẩn đoán và chỉ định phẫu thuật. Tuy nhiên, cận lâm sàng không thể thay thế được lâm sàng trong tìm hiểu bệnh sử và thăm khám.
TÀI LIỆU ĐỌC THÊM
- R. Berkov, A. Fletcher MB. The Merck manual of Diagnosis and Therapy, Merck research laboratoies, 1992: 658-1661.
- J. Conté. Les examens néphrologiques en Nephrologie. CHU Toulouse, Asclepios. 1973: 7.
- Jay Y. Gillenwater, J.T.Grayhack. Adult and pediatric urology, 3rd Ed. 1996: 79-218.
- James. F. Gleen. Diagnostic urology. Harper. Row Publishers, Newyork. 1964.
- Smith. General urology, 12th Ed. 1988: 46-167.
