I. NHỮNG DẤU HIỆU LÂM SẢNG CHỦ YẾU
Là những dấu hiệu nổi bật, làm cho bệnh nhân phải để ý và đi khám bệnh. Gồm có:
- Cơn đau bão thận
- Tiểu ra mů
- Tiểu ra máu
- Rối loạn đi tiểu
- Bí tiểu
- Tiểu không kiểm soát
A. CƠN ĐAU BÃO THẬN
Cơn đau bão thận xuất hiện một cách đột ngột. Trong một số lớn các trường hợp, cơn đau xảy ra sau khi lao động, chơi thể thao hay đi xe đường dài. Cường độ cơn đau thường khá mạnh: Bệnh nhân có cảm giác như có sự co thắt ở bên trong, bệnh nhân lãn lộn và không có tư thế giảm đau. Cơn đau xuất phát từ hố thắt lưng và lan xuống dưới, dọc theo đường đi của niệu quản đến hố chậu, bộ phận sinh dục ngoài và mặt trong của đùi.
Triệu chứng đi kèm thường gặp là bệnh nhân nôn mửa, hay buồn nôn, hoặc trướng bụng do liệt ruột. Cổ thể có sốt và rét run trong trường hợp có nhiễm trùng niệu kết hợp.
Thăm khám, điểm đau nhói ở điểm sườn-thắt lưng. Làm dấu hiệu rung thận bệnh nhân rất đau.
Khám bụng, có thể bụng trướng nhẹ và có dấu hiệu phản ứng thành bụng ở nửa bụng phía bên đau, do đó phải khám hết cả hai bên để so sánh.
Thứ nước tiểu, có nhiều hồng cầu và có thể có cả bạch cầu và vi trùng. Điểm này cho phép chẩn đoán phân biệt với viêm ruột thừa, nếu cơn đau xảy ra ở bên phải.
Chụp X quang bụng có thể phát hiện được sởi bể thận hay niệu quản.
B. TIỂU RA MỦ
Nước tiểu đục và khi cho acide acétique vào thì nước tiểu vẫn còn đục, giúp phân biệt với nước tiểu đục do có nhiều cặn phosphate.
1. Trước tiên là thầy thuốc phải xem nước tiểu của bệnh nhân và làm nghiệm pháp ba ly, để phân biệt mủ xuất phát từ điểm nào của đường tiết niệu
Nếu ly đầu đục và hai ly sau trong: Mủ từ niệu đạo.
- Nếu ly cuối đục hơn hai ly đầu: Mủ từ bàng quang.
- Nếu ba ly đều đục: Mủ từ thận.
2. Làm xét nghiệm nước tiểu sẽ thấy trong nước tiểu có nhiều tế bào mủ và có thể tìm thấy cả vi trùng
3. Tìm nguyên nhân của tiểu ra mủ
Những nguyên nhân thường gặp là:
- Nếu mủ từ niệu đạo: Có thể viêm niệu đạo cấp tính: Bệnh nhân có kèm theo tiểu gắt, tiểu buốt và nóng rát dọc theo đường niệu đạo lúc đi tiểu.
- Nếu mủ từ bàng quang, có thể là:
- Viêm bàng quang cấp tính: Bệnh nhân có tiểu gắt buốt, tiểu nhiều lần, buồn đi tiểu không nhịn được.
- Nhiễm trùng mạn tính ở bàng quang, có thể do nhiễm trùng ở túi ngách của bàng quang, nhiễm trùng do sỏi bàng quang hoặc u bàng quang bị hoại tử.
- Nếu mủ từ thận: Có thể do mủ thận, thận trướng mủ. Khám vùng hông lưng có thể sờ nắn được thận to. Chụp X quang bộ niệu không chuẩn bị có thể phát hiện được sỏi cản quang và bóng thận to.
Cần phải phân biệt với trường hợp tiểu ra dưỡng chấp. Trong trường hợp này, nước tiểu đục như sữa, để yên, nước tiểu không lắng cặn, và bệnh nhân không có dấu hiệu tiểu gắt, tiểu buốt. Trong trường hợp tiểu ra dưỡng chấp nặng, dưỡng chấp có thể đọng trong bàng quang thành những khối như cục máu đông, và trong trường hợp này, khối dưỡng chấp có thể gây ra sự tắc nghẽn của dòng nước tiểu.
Xét nghiệm nước tiểu sẽ thấy có dưỡng chấp.
C. TIỂU RA MÁU
Là trường hợp trong nước tiểu có nhiều hồng cầu. Thông thường bệnh nhân chỉ phát hiện được các trường hợp tiểu ra máu đại thể: Nước tiểu có màu đỏ và có khi có lẫn ít nhiều những cục máu đông nhỏ.
Trường hợp tiểu ra máu vi thể, thì phải làm xét nghiệm nước tiểu mới phát hiện được nhiều hồng cầu trong nước tiểu. Cần phân biệt với hai trường hợp chủ yếu là:
- Ra máu ở niệu đạo như trong trường hợp chấn thương niệu đạo. Trong trường hợp này, có máu ra ở lỗ sáo, nhưng đây là máu tươi, không lẫn với nước tiểu, nên không thể gọi là “tiểu". Ra máu ở niệu đạo có thể kèm theo bí tiểu.
- Tiểu ra huyết sắc tố: Nước tiểu có màu đỏ giống như tiểu ra máu, nhưng để yên thì nước tiểu vẫn đỏ, không lắng làm hai lớp như trong trường hợp tiểu ra máu. Xét nghiệm nước tiểu thấy có huyết sắc tố, có thể có một ít hồng cầu, nhưng số lượng hồng cầu không tương xứng với màu sắc của nước tiểu.
1. Thăm khám
Người thầy thuốc phải trực tiếp xem nước tiểu của bệnh nhân và làm nghiệm pháp ba ly như trong trường hợp tiểu ra mủ.
Cho bệnh nhân tiểu vào ba ly riêng biệt:
- Ly đầu: Lấy nước tiểu đầu dòng.
- Ly hai: Lấy phần lớn của nước tiểu giữa dòng.
- Ly ba: Lấy nước tiểu cuối dòng.
Đọc kết quả như sau:
- Nếu ly đầu đỏ nhiều hơn hai ly sau: Máu chảy ra từ niệu đạo.
- Nếu ly cuối đỏ hơn hai ly đầu: Máu từ bàng quang.
- Nếu ba ly đều đỏ: Máu từ thận.
Chú ý: Nếu máu chảy nhiều thì cả ba ly đều đỏ, mặc dù máu chảy từ niệu đạo hay bàng quang.
2. Tìm nguyên nhân của tiểu ra máu
a. Nguyên nhân có thể rõ ràng
Nguyên nhân có thể do viêm cấp tính ở đường tiết niệu. Trong trường hợp này bệnh nhân có tiểu gắt, tiểu buốt, có thể có sốt. Có thể bị tiểễn sử chấn thương như thông niệu đạo gây, vỡ niệu đạo, chấn thương thận.
b. Nguyên nhân có thể không rõ ràng
Tiểu ra máu có thể tự nhiên và không kèm theo một dấu hiệu đau đơn nào, có thể có tiển sử nhiều lần tiểu ra máu tương tự.
- Nếu bệnh nhân có tiển sử u lành hay u ác tiển liệt tuyến thì máu có thể xuất phát từ tiển liệt tuyến.
- Nếu bệnh nhân có thận to: Do u thận hay thận đa nang.
Nếu khám bệnh nhân không tìm ra dấu hiệu gì bất thường và thử nước tiểu chỉ có hồng cầu, không có kèm theo bạch cầu hay vi trùng, thì hãy coi đó là một dấu hiệu của u ác đường tiết niệu, cho đến khi được chứng minh là không phải. Thông thường, đây là u của niêm mạc đường tiết niệu. Trong trường hợp này, cần phải soi bàng quang để chẩn đoán.
c. Soi bàng quang
Có thể thấy:
- U ở niêm mạc bàng quang, có thể sinh thiết u để làm giải phẫu bệnh.
- Niêm mạc bàng quang có thể bình thường và thấy máu xuất phát từ một lỗ niệu quản: Như vậy sẽ biết được chỗ chảy máu là ở đường tiết niệu trên và sẽ biết được phía bên nào bị chảy máu. Có thể qua máy nội soi, luổn một ống thông vào lỗ niệu quản phía bên ra máu và bơm thuốc cản quang để chụp X quang niệu quản-bể thận ngược dòng (UPR). Phương pháp này có thể giúp phát hiện được các u niệu mạc ở đường tiết niệu trên vì u sẽ thể hiện bằng những chỗ khuyết ở dài bể thận hay niệu quần.
Chú ý: Đặc điểm của tiểu ra máu do u đường tiết niệu là xuất hiện một cách tự nhiên và hết một cách tự nhiên sau vài ngày, có thể có điều trị hoặc không điều trị, bệnh nhân cũng hết. Sau đó một thời gian dài, tiểu ra máu lại tái phát trở lại với những đặc điểm tương tự và cũng sẽ tự khỏi. Đặc điểm này có thể làm cho bệnh nhân chủ quan và đến muộn để điều trị, làm cho u có thời gian phát triển lớn, do đó tiên lượng sẽ xấu hơn.
D. RỐI LOẠN ĐI TIỂU
Động tác đi tiểu bình thường có các đặc điểm là:
- Thoải mái, không đau.
- Tiểu hết nước tiểu.
- Tiểu có kiểm soát.
Các rối loạn đi tiểu gồm có:
- Tiểu gắt, tiểu buốt, tiểu lắt nhắt.
- Tiểu khó.
- Bí tiểu.
- Tiểu không kiểm soát.
1. Tiểu gắt, tiểu buốt, tiểu lắt nhắt
Bệnh nhân có cảm giác đau buốt lúc đi tiểu, nhất là về cuối bãi và có dấu hiệu đau buốt lan dọc theo đường niệu đạo ra đến lỗ sáo. Đó là dấu hiệu của viêm bàng quang cấp. Bệnh có thể kèm nước tiểu đục hoặc có thể có lẫn máu.
Bàng quang khi bị viêm nhiễm rất nhạy cảm nên khi nước tiểu đẩy là bệnh nhân muốn đi tiểu ngay, không nhịn được: Đó là dấu hiệu tiểu gấp. Có trường hợp bàng quang bị co thắt, không dãn nở được tốt để chứa nước tiểu, nên bệnh nhân phải đi tiểu rất nhiều lần và mỗi lẫn đi chỉ được ít nước tiểu. Đó là hiện tượng tiểu lắt nhắt.
2. Tiểu khó
Tiểu khó được thể hiện do các dấu hiệu như sau:
- Chậm ra tia nước tiểu: Bệnh nhân không tiểu được ngay mà phải rặn và chờ một vài giây mới tiểu được.
- Tia nước tiểu yếu, dòng nước tiểu không mạnh.
- Thời gian đi tiểu kéo dài.
- Tiểu xong, có cảm giác như còn nước tiểu trong bàng quang.
Nguyên nhân của tiểu khó có thể là:
- Cổ bàng quang không mở ra được tốt lúc đi tiểu, như trong trường hợp u tiển liệt tuyến, xơ hóa cổ bàng quang, bàng quang hỗn loạn thần kính.
- Có sự cản trở trên đường lưu thông của niệu đạo như hẹp niệu đạo, hẹp lỗ sáo, hẹp bao quy đầu, sỏi kẹt niệu đạo.
- Sức co bóp của bàng quang bị giảm sút như trường hợp bàng quang hỗn loạn thần kinh.
Tiểu khó có thể đưa đến hiện tượng có nước tiểu tồn lưu.
Nước tiểu tồn lưu là nước tiểu còn sót lại trong bàng quang sau khi bệnh nhân đi tiểu. Số lượng này phải trên 20ml mới gọi là bệnh lý.
Trong trường hợp nặng, nước tiểu tồn lưu có thể trên 200ml và bệnh nhân luôn luôn có cầu bàng quang mặc dù vẫn đi tiểu được bằng đường tự nhiên. Đó là bí tiểu mạn.
3. Bí tiểu
a. Bí tiểu cấp
Bí tiểu cấp thường xảy ra trong trường hợp có phản xạ thần kinh, làm cho cổ bàng quang không mở ra được lúc đi tiểu.
Đó là trường hợp:
- Chấn thương tủy sống.
- Bí tiểu do phản xạ sau phẫu thuật ở chậu hông bé.
- Bí tiểu trong chấn thương niệu đạo.
Có thể là bí tiểu hoàn toàn, là giai đoạn cuối của một thời gian dài bệnh nhân có hiện tượng tiểu khó, như trong trường hợp hẹp niệu đạo, hẹp lỗ sáo hay u lành tiển liệt tuyến.
Đặc điểm lâm s ng của bí tiểu là bệnh nhân mớt tiểu nhưng không tiểu được và nhiều nước tiểu trong bàng quang, có thể phát hiện được bằng cách thăm khám và thấy có dấu hiệu cầu bàng quang, hoặc qua siêu âm, thấy bàng quang căng đầy nước tiểu.
b. Bí tiểu mạn
Bệnh nhân có một khối lượng nước tiểu tổn lưu lớn, hoặc bệnh nhân tiểu rì do tràn đầy. Mặc dù bệnh nhân vẫn nói rằng có tiểu được nhưng khám lúc nào cũng thấy có cầu bàng quang ở vùng hạ vị: Thường gặp trong hai trường hợp:
- Bàng quang hỗn loạn thần kinh.
- U tiền liệt tuyến ở giai đoạn muộn.
Bí tiểu mạn có thể ảnh hưởng lên đường niệu trên: Niệu quản và có thể cả hai thận bị trướng nước và nếu để lâu ngày bệnh nhân có thể có dấu hiệu suy thận.
4. Tiểu không kiểm soát
Đây là trường hợp bệnh nhân không kiểm soát được động tác đi tiểu của mình.
- Có thể là tiểu không kiểm soát hoàn toàn. Nước tiểu rỉ ra liên tục và bệnh nhân không nhịn lại được. Nguyên nhân thông thường là cơ vòng của niệu đạo bị hư hỏng, như trong trường hợp tiểu không kiểm soát sau khi bóc u lành tiển liệt tuyến, hoặc bệnh nhân bị liệt cơ vòng trong trường hợp bàng quang thần kinh.
- Có thể tiểu không kiểm soát lúc gắng sức: Bình thường, bệnh nhân vẫn giữ được nước tiểu, nhưng lúc gắng sức, khi ho hay hắt hơi, thì nước tiểu rỉ ra một ít. Tiểu không kiểm soát cần được phân biệt với rò bàng quang âm đạo: Ở đây, nước tiểu vẫn rỉ ra liên tục, nhưng không phải qua đường niệu đạo nên không thể gọi là tiểu. Khám âm đạo sẽ phát hiện được lỗ rò
II. THĂM KHÁM THỰC THỂ ĐƯỜNG TIẾT NIỆU
Gồm có:
- Khám thận.
- Khám niệu quản.
- Khám bàng quang-niệu đạo.
- Khám tiển liệt tuyến.
A. KHÁM THẬN
1. Dấu hiệu rung thận
Đặt bàn tay trái lên trên vùng thận, nghĩa là để trục của ngón giữa theo trục của xương sườn thứ 12, và dùng sống của bàn tay phải gõ nhẹ lên bàn tay trái, bệnh nhân sẽ cảm thấy đau nhói ở trong thận: Dấu hiệu rung thận dương tính. Dấu hiệu rung thận sẽ dương tính trong các trường hợp thận bị tổn thương hay bị căng trướng. Cụ thể như trong các trường hợp:
- Chấn thương thận kín.
- Cơn đau bão thận.
- Thận trướng nước.
- Viêm thận-bể thận.
Ngoài ra, nếu ấn vào hố thắt lưng, ở điểm sườn-thắt lưng, tức là điểm nằm ngoài khối cơ chung thắt lưng, dưới xương sườn 12, bệnh nhân thấy đau chói. Đó là điểm đau sườn-thất lưng.
Ngoài những nguyên nhân ở thận, điểm đau sườn-thắt lưng còn có trong trường hợp viêm tụy cấp: Trong trường hợp này, bệnh nhân có thể đau ở điểm sườn-thắt lưng cả hai bên
2. Thận to
Tùy theo thận to nhiều hay ít, có thể có dấu hiệu hố thất lưng dẫy và thận có thể to ra phía trước, có thể sờ nắn được khi khám vùng hông, phía dưới bờ sườn. Phía bên trái, cần phân biệt với lách to: Trong trường hợp này có thể sờ được rãnh của lách khi khám ở vùng hạ sườn.
Thận to có thể có dấu hiệu chạm thận và bập bểnh thận.
- Dấu hiện chạm thận hay chạm thắt lưng: Bàn tay trái để ở hố thắt lưng, bàn tay phầi phía trên bụng ấn xuống. Nếu thận to, có cảm giác thận chạm xuống băn tay dưới.
- Dấu hiệu bập bểnh thận: Bàn tay phía hố thắt lưng hất nhẹ lên từng đợt, trong khi bàn tay trên bụng ấn xuống. Nếu thận to, sẽ thấy thận bập bểnh giữa hai lòng bàn tay.
Khi khám thận to cần chú ý hai điểm:
- Thận mềm hay cứng
- Nếu thấy khối thận mềm: Đó là dấu hiệu thận bị trướng nước.
- Nếu thấy thận cứng: Đó là dấu hiệu của u thận.
- Thận đã to đến đường trắng giữu hay chưa?
- Nếu thận đã to đến hay quá đường trắng giữa thì sẽ có khả năng dính vào các mạch máu lớn như tĩnh mạch hay động mạch chủ, phẫu thuật sẽ có nhiều nguy cơ chạm phải mạch máu lớn. Nhất là trong trường hợp ung thư thận, nếu thận đã to quá đường trắng giữa, thì có nhiểu khả năng đã quá giai đoạn có thể mổ lấy được u.
Dấu hiệu chạm thận và bập bểnh thận dương tính còn chứng tỏ thận còn di động, ít dính vào các cơ quan lân cận. Có trường hợp có thể sờ nắn được thận to, nhưng thận dính chắc vào vùng hông lưng, và không có dấu hiệu bập bểnh thận.
B. KHÁM NIỆU QUẢN
Chủ yếu là tìm các điểm đau của niệu quản. Gồm các điểm sau:
- Điểm sườn-thất lưng: Như đã trình bày ở trên. Điểm này tương ứng với thận và bể thận.
- Điểm đau niệu quân trên: Ở bờ ngoài cơ thẳng to, trên đường thẳng ngang rốn.
- Điểm niệu quản giữa: Ở 1/3 ngoài trên đường thẳng nối liền hai gai chậu trước trên.
- Điểm niệu quản dưới: Điểm này nằm trong tiểu khung, nên phải tìm bằng cách thăm trực tràng hay thăm âm đạo.
C. KHÁM BÀNG QUANG
Bình thường, bàng quang nằm ở phía sau của khớp mu nên không thể sờ nắn được. Khi có bí tiểu, bàng quang căng to, sẽ nhô lên khỏi khớp mu và lúc bấy giờ sẽ có dấu hiệu cầu bàng quang.
Để bệnh nhân nằm ngửa, hai chân duỗi thẳng có thể sờ thấy được cầu bàng quang với các đặc điểm là một khối tròn, đội vùng hạ vị, có ranh giới rõ ràng, mềm, gõ đục, và khi ấn vào, bệnh nhân có cảm giác mót tiểu.
Cầu bàng quang được phân biệt với u nang buồng trứng. Trong trường hợp này phải thông tiểu: Nếu là cầu bàng quang thì khối tròn ở hạ vị sẽ mất đi sau khi thông tiểu.
D. KHÁM NIỆU ĐẠO
Khám từ đầu dương vật vào tới đoạn niệu đạo sau. Có thể thấy:
- Bao qui đầu dương vật bị hẹp (phimosis): Bao dương vật bị trít hẹp, qui đầu dương vật không tuột ra được.
- Bao qui đầu dương vật có thể dài, trùm lên hết qui đầu, nhưng vẫn có thể tuột qui đầu dương vật ra dễ dàng. Đó vẫn trường hợp bình thường.
Khi tuột bao dương vật ra, khám có thể thấy:
- Có mồng gà ở rãnh da quy đầu: Cần làm sinh thiết để phân biệt với ung thư da dương vật.
- Lỗ sáo có thể bị trít hẹp.
Sờ nắn niệu đạo dọc theo đường đi của niệu đạo, từ hành niệu đạo ra cho tới qui đầu. Bình thường, niệu đạo mểm mại không đau khi sờ nắn, và không có mủ ra ở lỗ sáo.
- Nếu có viêm niệu đạo cấp (như trường hợp lậu) sờ nắn niệu đạo, bệnh nhân thấy đau và có giọt mủ ra ở lỗ niệu đạo.
- Nếu niệu đạo bị viêm xơ như trong trường hợp hẹp niệu đạo do chấn thương, sẽ thấy có một sẹo cứng ở niệu đạo, nhất là ở phẩn niệu đạo hành, hoặc ở góc bìu-dương vật. Có thể có các lỗ rò niệu đạo ở tẩng sinh môn. Chung quanh các lỗ rò, tổ chức sẽ bị xơ cứng, và có nước tiểu rỉ ra ở đó.
- Nếu có sỏi kẹt niệu đạo, có thể cảm nhận được hòn sỏi cứng trong niệu đạo, và bệnh nhân có dấu hiệu tiểu khó.
- Sờ nắn niệu đạo chỉ có thể phất hiện được các dấu hiệu bất thường ở niệu đạo trước, không phát hiện được các dấu hiệu bất thường ở niệu đạo sau.
Thăm khám niệu đạo bằng thông sắt (béniqué) có thể phát hiện niệu đạo bị hẹp: Thông béniqué sẽ bị vướng lại ở chỗ hẹp. Nếu có sỏi niệu đạo, thông sắt có thể chạm sỏi, và có cảm giác ống thông chạm văo vật cứng, và có tiếng chạm.
Thông thường, muốn phát hiện rõ ràng hẹp niệu đạo, cần phải chụp X quang niệu đạo ngược dòng có bơm thuốc cản quang.
E. KHÁM TUYẾN TIỀN LIỆT
Tuyến tiền liệt là một tuyến bao quanh cổ bàng quang và niệu đạo sau, do đó, niệu đạo sau gồm có hai phần:
- Niệu đạo màng, mỏng, đi xuyên qua màng chắn niệu-sinh dục, liên quan mật thiết với cân đáy chậu giữa, và có cơ thắt vận bao bọc.
- Niệu đạo tuyến tiển liệt, được tuyến tiển liệt bao bọc và ở trong niệu đạo tuyến tiển liệt có lồi tinh, ở đó có các lỗ phụ tinh.
Tuyến tiển liệt bình thường to hơn ngón tay cái một ít, có hình giống như hình tam giác, đỉnh ở giữa, đáy ở trên, có hai thùy bên và một rãnh giữa, có thể thăm khám được khi cho ngón tay thăm khám trực tràng.
Khi cho ngón tay vào trực tràng, sẽ cảm nhận được tuyến tiển liệt ở mặt trước của trực tràng. Bình thường, khi sờ vào tuyến tiễn liệt qua thăm khám trực tràng, thấy tuyến tiền liệt mềm mại và không đau. Tuyến tiển liệt bình thường có mật độ giống như chóp của mũi. Ngón tay cho sâu vào hậu môn có thể sờ được bờ trên của tuyến tiền liệt.
Ở hai góc hai bên của tuyến tiển liệt, có hai túi tỉnh, nhưng trong trường hợp bình thường, túi tinh rất mềm, nên không cảm nhận được khi thăm khám qua trực tràng. Chỉ sờ thấy túi tinh cứng và không đau trong trường hợp túi tinh bị thâm nhiễm-lao hay thâm nhiễm trong trường hợp ung thư tuyến tiền liệt.
Thăm khám tuyến tiền liệt qua trực tràng có thể phát hiện được hai trường hợp:
- Tuyến tiền liệt đau.
- Tuyến tiền liệt to và không đau.
1. Tuyến tiền liệt đau
Khi khám tuyến tiển liệt qua hậu môn thấy:
- Tuyến tiền liệt đau: Đó là dấu hiệu của viêm tuyến tiền liệt.
- Nếu thấy có điểm đau chói, kèm theo có dấu hiệu tiểu gắt, tiểu buốt, thậm chí có trường hợp bí tiểu cấp, đó là dấu hiệu của áp xe tuyến tiền liệt.
2. Tuyến tiển liệt to và không đau
Tuyến tiển liệt có thể to ở hai thùy bên và mất rãnh giữa. Có trường hợp tuyến tiển liệt đội cổ bàng quang lên cao, ngón tay cho sâu vào hậu môn vẫn không sờ thấy được bờ trên của tuyến tiền liệt. Cần phải đánh giá độ cứng và ranh giới của tuyến tiển liệt. Trong trường hợp u lành, tuyến tiền liệt to nhưng có độ cứng đồng đều, chắc và ranh giới rõ ràng, có thể phống vào phía trực tràng và mất rãnh giữa.
Trong trường hợp u ác, tuyến tiền liệt có độ cứng không đồng đều và ranh giới không rõ rệt. Trong trường hợp này, cẩn phải thử thêm P.S.A (Prostatic Specific Antigen). Bình thường, tỷ số P.S.A từ 2 đến 4ng/ml. Nếu P.S.A tăng từ 10 đến 20ng/ml thì nghi ngờ có u ác. Nếu P.S.A trên 20ng/ml, tỷ lệ có u ác là 75%. Nếu trên 30ng/ml, tỷ lệ u ác là 85%. Theo Stanley, nếu P.S.A trên 50ng/ml, có nghĩa là u đã phá vỡ vỏ bọc của tuyến tiển liệt và đã có di căn. Nhưng cũng nên nhớ vẫn có một số ít trường hợp ung thư đã được xác định qua giải phẫu bệnh mà P.S.A vẫn dưới 10ng/ml. Cần theo dõi diễn tiến của u. Nếu sau 3 tháng mà P.S.A tăng gấp đôi thì đó là dấu hiệu gần như chắc chắn của ung thư tuyến tiển liệt. Đó là dấu hiệu tăng trưởng của P.S.A (P.S.A velocity).
