Trang chủ

Thư viện Seadrop

Khám tuyến vú

Posted in Ngoại khoa by

I. KHÁM LÂM SÀNG

Thường ai cũng nghĩ là việc khám tuyến vú tương đối đơn giản, vì tuyến vú nằm lộ ra ngoài mà chính người phụ nữ cũng tự khám được và có thể tìm ra dễ dàng một “bất thường” nho nhỏ. Tuy. nhiên trong thực hành, thầy thuốc có thể gặp rất nhiểu khó khăn khi khám vú. Thật vậy, vú nhiểu mỡ của người béo mập, mô tuyến sữa quá dày đặc của các thiếu nữ, mô vú thay đổi theo chu kỳ kinh nguyệt đã cản trở không nhỏ việc xét đoán bằng cách sờ nắn. Thế nên một cục u trong vú người già hoặc vú lép thì dễ khám thấy hơn trong vũ người trẻ hoặc vú n y nở, hơn nữa khám khi vừa sạch kinh thì thường “thấy” được nhiều nhất.

Khám lâm sàng mục đích chính là phát hiện ung thư vú:

  • Người bệnh đến có thể khám vì lý do: Một cục u trong vú, đau vú, tiết dịch núm vú.
  • Thẩy thuốc chú ý đến tâm trạng “sợ hãi ung thư”và "ít chịu thổ lộ căn bệnh” của nhiều bệnh nhân.
  • Bệnh thông thường nhất của tuyến vú là bệnh về u, mà u ác(ung thư) là căn bệnh đe dọa nhất.
  • Tuối cũng là yếu tố quan trọng giúp nghĩ đến u lành/ác tính: Dưới 30 tuổi, ung thư vú rất hiếm gặp, ngược lại trên 35 tuổi nghi ngờ u ác tính khi gặp bất cứ u nào trong vú.

Khi tiến hành khám vú nên nhớ các điều kiện sau:

  • Ánh sáng phải đẩy đủ.
  • Bệnh nhân ở trần đến lưng quần.
  • Khám vú bên này so sánh với vú bên kia.
  • Phải chú ý toàn thể lồng ngực và các hạch vùng nách.
  • Không quên khám tổng quát.

A. BỆNH SỬ

Việc phổ biến kiến thức y học rộng rãi cho nhân dân và nỗi lo sợ bị ung thư đã thúc đẩy nhiểu phụ nữ tự khám vú. Nhờ vậy, ngày nay thầy thuốc có nhiều cơ hội gặp được các bệnh nhân tự khám có "cái`gì là lạ” trong vú mình hơn là những năm về trước.

Trước khi tiến hành khám thực thể, thầy thuốc nên hỏi bệnh sử. Tuổi bệnh nhân, số lần mang thai và sinh nở, tiền căn gia đình là các chi tiết phải tìm hiểu trước tiên. Bệnh nhân đã có bị mổ vì bệnh ở vú hay ở vùng chậu, nhất là cắt buồng trứng hoặc cắt tử cung và sau đó có dùng liệu pháp nội tiết bổ sung hay không. Nên tìm hiểu tình trạng kinh kỳ vì nhiểu tổn thương của vú thường thay đổi theo chu kỳ kinh nguyệt.

Người bệnh thuật lại diễn tiến thế nào, vú như có chỗ sưng lên, thấy nặng vú, có lần nào đó bị chấn thương vào ngực, vú căng đau khi gẫn tới kinh. Nếu có một u trong vú thì trước đến nay nó tiến triển thế nào, vú có lớn lên và nách thấy cộm, da phía trên u có nhíu lại hay sưng lên không. Nếu có tiết dịch (chảy nước, chảy máu) ở núm vú, thì hỏi xem chất dịch màu gì, bao lâu thấy một lẫn, tự chảy ra hay phải tự nặn ép vú.

Không thể bỏ qua mà không hỏi về các triệu chứng tổng quát như sụt cân, chán ăn, nóng sốt, ho, đau và tức ngực.

Khai thác kỹ về tiền căn dùng thuốc, nhất là dùng các loại kích tố. Nếu có dùng thuốc ngừa thai thì phải ghi chú rõ về tên thuốc, liều lượng, thời gian, phác đồ điều trị. Cuối cùng không quên hỏi xem có “đắp giặt” các loại thuốc, các loại lá cây trên vú hoặc chích đốt lễ "lấy cùi”, "rút mủ”.

B. NHÌN

1. Nhìn bệnh nhân ở tư thế thuận lợi nhất

Tư thế thuận tiện cho việc quan sát: Bệnh nhân ngổi thẳng trên ghế, hai tay buông thống, bàn tay đặt trên gối, hai chân không gác chéo. Quan sát cả hai vú và so sánh về độ lớn, bờ vú và độ cao của hai núm vú. Ở một số phụ nữ, có sự chênh lệch bình thường về kích thước của hai vú, đôi khi có phì đại một bên vú mà không có liên hệ gì với thai kỳ hoặc việc cho con bú.

Nhìn kỹ da vú, quầng vú và núm vú:

  • Để ý tĩnh mạch bàng hệ trên vú, xem có một vùng u đội da vú lên. Quan sát kỹ màu và mật độ của da vú, chú ý tìm vùng ửng đỏ hoặc phù nề. Vùng đỏ ửng có thể tương ứng với triệu chứng viêm vú và áp xe vú nhựng cũng có thể là tình trạng bùng phát dữ dội của ung thư vú (còn gọi là ung thư dạng viêm); vùng phù nề da thường là triệu chứng của một ung thư diễn tiến ха. Nếu có vùng da bị kéo chằng thì gọi là triệu chứng nhíu da. Triệu chứng "da cam” hay da lợn chứng tỏ có phù nể da, gặp các bệnh ung thư đã ăn lan nhiều.
  • Quầng vú bị kéo lệch, núm vú bị kéo lên hay bị thụt vào (lún núm vú) nghĩ đến ác tính. Tuy nhiên phải hỏi kỹ để loại trừ các triệu chứng bẩm sinh. Một vết trầy, một vết lở ở núm vú cũng có ý nghĩa. Đôi khi nhìn kỹ cũng thấy được một giọt nước hoặc giọt máu ở đầu vú (hình 1,2).

3. Thay đổi tư thế bệnh nhân cũng glúp quan sát được nhiều điều

Bệnh nhân nghiêng người tới trước có thể làm rõ độ dính của một khối u ở một vú so với vú bên kia, sự bất đối xứng của hai núm hoặc độ dính da ở một vùng của vú.

Bệnh nhân ngồi tay dang 90°, nhờ sức căng của cơ ngực, thầy thuốc có thể nhìn rõ hơn độ lệch của hai núm vú hoặc độ dính da, đặc biệt là đối với các tổn thương nằm ở phần tư trên-ngoài của vú.

Bệnh nhân cặp tay sát vào thân mình, chú ý xem các nếp nách, vùng trên đòn và vùng cổ, cũng để ý xem hai vai có đối xứng không.

enter image description here enter image description here

Độ dính nhẹ vào da có thể nhìn được rõ hơn khi thầy thuốc dùng tay kéo lệch vú, hoặc thay đổi tư thế người bệnh kỹ thuật này rất quí báu, nó giúp xác định được ác tính của một tổn thương còn nhỏ vì độ dính da nhẹ như thế cũng rất hiếm gặp ở các tổn thương lành như chứng hoại tử mỡ (hình 3).

C. SỜ NẮN

Sờ nắn là phương pháp chủ yếu để khám tuyến vú.

1. Khám vú

a. Tư thế bệnh nhân

Nên khám bệnh nhân lần lượt ở tư thế ngồi và nằm. Tư thế nằm là thuận lợi nhất: Bệnh nhân nằm ngửa, kê gối hoặc khăn dưới vai để nâng vú lên đối với bệnh nhân có vú to, tay giơ lên đẩu khi khám nửa trong của vú và tay xuôi theo mình khi khám nửa ngoài của vú (hình 4).

enter image description here

b. Kỹ thuật khám

Bàn tay thẩy thuốc mở rộng, lòng bàn tay phẳng đè ép nhẹ nhàng tuyến vú áp vào thành ngực. Muốn tìm một u trong vú thì phải dùng kỹ thuật sờ nắn như vừa mô tả (còn gọi là thủ thuật Velpeau), chứ không được bóp cả tuyến vú trong lòng bàn tay hoặc kẹp mô vú giữa hai ngón tay "bóp" hoặc "kẹp" phải mô sữa (hình 5). Việc sờ nắn đúng cách phải được tiến hành có qui củ, phải rà lần lượt từng phần tử của vú, cũng đừng quên đuôi nách của phần tư trên-ngoài tuyến vũ. Nhiểu khi nên theo sự hướng dẫn của bệnh nhân để tìm ụ trong vú mà người bệnh đã biết khá rõ từ trước.

Nên nhớ điều quan trọng là thẩy thuốc phải biết rõ mật độ bình thường nhưng rất đặc biệt của tuyến vú: Có nhiểu thùy, không đồng bộ, thay đổi tùy theo người do mức độ nhiều ít của mô sữa và mô mỡ. Các vùng khó phân biệt là 1/4 trên ngoài, nếp dưới vú và sau quầng vú. Mật độ vú cũng thay đổi theo chu kỳ kinh nguyệt: Mô sữa căng và cứng nhất khi sắp có kinh, và trở nên mềm nhất sau khi sạch kinh.

c. Ý nghĩa của việc sờ năn

Là tìm khối u trong vú. Việc sờ nắn một hoặc nhiều “hột” bất thường trong vú, phải ghi nhận các tính chất: Vị trí đối với phần tư của vú, thể tích, mật độ, bờ, có đau hay không, có dính vào các cấu trúc nông và sâu hay không.

enter image description here

Một u có mật độ chắc hoặc mềm, di động nhiễu hoàn toàn phân biệt được với mô sữa lân cận thì đễ sờ thấy thì thường là u lành.

Khi gặp một vùng có mật độ chắc, bờ không đều nằm lọt trong tuyến vú bị tăng sẵn nang (cystic hyperplasia) thì khó khăn hơn nhiều nếu muốn phân biệt đó là tổn thương riêng rẽ hay thuộc hiện tượng tăng sản. Hiện tượng nang hóa như thế thường gặp ở phần tư trên ngoài và ở đuôi nách của vú, cũng thường thấy cả hai vú. Hiện tượng này giảm nhẹ khi vừa sạch kinh, do đó nên tái khám vào lúc này thì dễ nhận biết hơn.

Nhiểu khi phải nhờ một thầy thuốc có kinh nghiệm để khám và tái khám mới có thể xác định được vùng nào đó của tuyến vú có một khối u thật sự nhưng còn nhỏ mà lúc ban đầu cho cảm giác khá mập mờ. Một ung thư vú (loại carcinôm) thường ở 1/4 trên ngoài của vú, khi còn nhỏ thì tính di động và không đau thường làm cho bệnh nhân và thầy thuốc nhẩm lẫn, nhưng nếu sở nắn cẩn thận và quen tay thì có thể phát hiện được u có độ dính nhẹ, bờ khống đều, mật độ cứng.

d. Thầy thuốc giàu kinh nghiệm cũng chỉ xác định được khoảng 70% các carcinôm vú bằng lâm sàng. Vì vậy gặp một tổn thương mà ta có nhiều phân vân sau một lẩn khám thì nên khám thêm vào thời điểm khác của kỳ kinh, sau đó nếu còn chưa rõ thì phải nhờ đến cắt lạnh (sinh thiết tức thì, sinh thiết trong lúc mổ). Nếu có được nhiểu xét nghiệm cận lâm sàng hiện đại (sẽ để cập sau) thì chẩn đoán trước mổ sẽ dễ dàng hơn.

2. Khám hạch

Phải chú ý sờ nắn các vùng hạch tương ứng của tuyến vú giúp đánh giá tiên lượng bệnh ung thư.

Khi khám vùng nách thì nên đỡ nhẹ tay bệnh nhân sao cho các cơ bắp vùng vai buông lỏng. Bàn tay người khám phải đưa vào vùng trên cao của hố nách và rà sát vách trong của nách, đi từ trên xuống dưới và từ sau tới trước (hình 6,7). Thẩy thuốc có thể phân biệt được nhóm hạch thấp của chuỗi dưới ngoài với các nhóm hạch vùng trung tâm và vùng cạnh mạch máu nằm cao hơn. Hiếm hơn, ta có thể sờ được các hạch của nhóm dưới đòn nằm ở nách bên kia. Khi khám nách trái thì phải dùng tay phải và ngược lại. Luôn luôn người khám phải ở tư thế thoải mái mới thấy được nhiều dữ kiện. Khi sờ được hạch thì nên xác định các tính chất: Số hạch, kích thước, mật độ, độ di động, đau hay không đau. Các hạch đi căn lúc ban đầu thì thường không đau, chạy dưới ngón tay khám. Ở các phụ nữ g y ốm, ta có thể gặp vài hạch “thông thường”. Các hạch của chuỗi vú trong không thể sờ được, trừ phi ở giai đoạn di căn thì các hạch này có thể nhô ra ở các khoảng liên sườn (hình 8,9).

Khi khám vùng hạch trên đòn thì thẩy thuốc nên lẫn lượt đứng sau rồi đứng trước bệnh nhân, các ngón tay rà kỹ vùng trên đòn, bệnh nhân ho vài tiếng.

enter image description here enter image description here

3. Các điều cần lưu ý

  • Cần nhấn mạnh là việc khám lâm sàng phải được tiến hành cả hai bên, so sánh cả hai tuyến vú và các vùng hạch.
  • Khi khám xong thì ghi các dữ kiện trên một sơ đồ có vẽ hình hai vú và các vùng hạch tương ứng. Nếu gặp một ung thư vú thì các tính chất được tóm lược theo xếp hạng lâm sàng theo T.N.M
    • Bướu nguyên phát T (Tumour) gồm T1, T2, T3 và T4 dựa trên kích thước của bướu; độ di động hoặc độ dính vào thành sâu.
    • Hạch di căn N (Node) gồm NO, N1, N2 và N3 dựa trên vị trí và độ di động.
    • Di căn xa M (Metastasis) gồm M0 (không thấy di căn xa lâm sàng) và M1 (có di căn xa).

Nếu khám chưa thấy rõ căn bệnh thì nên khám lại vào một dịp khác (ở thời điểm khác của chu kỳ kinh); thể tích của tuyến vú, u trong vú có thể lớn thêm hoặc nhỏ đi hoặc vẫn như cũ. Khám vài ngày sau lần khám đầu có thể giúp biết rõ thêm về bệnh.

  • Trường hợp khám rất kỹ mà vẫn còn nghi ngờ thì nên tiến hành cắt lạnh và không nên mất thì giờ điều trị thử bằng các liệu pháp nội tiết (thường là kích tố nam). Điều trị thử thường chẳng giúp ích mà còn làm chậm trễ việc điều trị phẫu thuật. Không nên quên là khám tuyến vú phải gồm cả việc khám tổng quát. Một hội chứng tràn dịch màng phổi, một gan to có bờ cứng, một hội chứng thần kinh hoặc khám xương có thể giúp ta thấy rõ hơn tính chất của một u tuyến vú.

II. XÉT NGHIỆM CẬN LÂM SÀNG

A. NHŨ ẢNH

1. Nhũ ảnh hay X quang vú (Mammography)

Nhũ ảnh là một xét nghiệm hiện đại, hiện nay rất thông dụng ở các nước. Nhũ ảnh giúp rất nhiều cho việc chẩn đoán ung thư. Ai cũng đồng ý là khám lâm sàng (chủ yếu là sờ nắn) vẫn có mặt hạn chế, chẳng hạn như một u trong vú rất nhỏ, di động, không dính, không có hạch. Các trường hợp khó xác định bằng lâm sàng thì nhũ ảnh giúp xác định ngay cả khi tổn thương nhỏ, khó sờ thấy (đường kính < 0,5cm).

Hướng dẫn cho sinh thiết: Nhờ nhũ ảnh người ta có thể tránh được một số cuộc mổ vô ích và có thể dự kiến được mức độ rộng lớn của cuộc mổ.

Được dùng rà tm ung thư ở các phụ nữ: Độc thân trên 30 tuổi, không sanh hoặc sanh ít hơn hai lần, trong gia đình có người bị ung thư vú, đã điều trị ung thư vú rồi, cần theo dõi vú bên kia, vú to mập, bệnh Reclus (đa nang vú).

Các hình ảnh bệnh lý trên nhũ ảnh:

  • Ung thư: Vết mờ hình sao, có nhánh, độ mờ đều. Đốm vôi li ti trong vùng của vết mờ khả nghi. Da trên bướu bị kéo chằng và dày lên. Núm vú bị kéo.
  • Nang vú hoặc bướu sợi tuyến: Vết mờ tròn đều.
  • Bệnh Reclus: Nhiều bóng tròn đều. Nhưng nếu coi chừng có tổn thương khả nghi trong đám mờ này.

Nên nhớ kết quả tùy thuộc nhiễu vào chất lượng của máy chụp và khả năng cùng kinh nghiệm của thẩy thuốc X quang.

2. Siêu âm

Đây là kỹ thuật dùng các sóng âm thanh cao tẩn đi qua tạng định khảo sát thông qua một đầu dò. Các sóng dội lại được biến đổi thành các hình cắt lớp. Các nang vú có thể được phát hiện dễ dàng. Các thương tổn lành thường có bờ rõ nét, bờ không đểu thường thấy trong các ung thư. Siêu âm cũng có khả năng phát hiện các thương tổn nhỏ không sờ thấy trên lâm sàng và có thể chọc hút thương tổn làm tế bào chẩn đoán dưới sự hướng dẫn của siêu âm. Ngoài ra siêu âm còn có thể khảo sát các mạch máu trong u bằng kỹ thuật Doppler giúp cho việc chẩn đoán và xử trí các tổn thương ở trong vú và đánh gia hạch nách.

3. Chụp cộng hưởng từ

Chụp cộng hưởng từ của vú rất chính xác, phương pháp này có độ nhạy cao để phát hiện các thương tổn không sờ thấy và không thể xác định được tính chất bằng nhũ ảnh.

Các chỉ định của chụp cộng hưởng từ vú:

  • Trường hợp hạch nách di căn không phát hiện được u nguyên phát qua siêu âm hay nhữ ảnh.
  • Chẩn đoán phân biệt giữa sự tạo sẹo và tái phát nguyên phát tại chỗ trong các bệnh nhân được điều trị bảo tồn vú.

Đánh giá sự lan rộng của ung thư khi nhũ ảnh nghi ngờ có đa ổ.

B. XÉT NGHIỆM TẾ BÀO VÀ MÔ HỌC

1. Tế bào học

a. Tiết dịch của núm vú

Lấy chất dịch phết mỏng nhuộm rồi xem tế bào. Nếu có tế bào ác tính (xét nghiệm tế bào dương tính) thì rất có ý nghĩa, nếu tế bào học âm tính thì nên lặp lại xét nghiệm và nên nhớ tế bào âm tính không loại trừ được nguyên nhân ác tính.

b. Chọc hút là thủ thuật đơn giản

Phương pháp này cho phép hút xẹp một nang vú, lành tính được kiểm chứng bằng xét nghiệm tế bào của chất dịch. Phải chắc chắn là hút xẹp hoàn toàn khối u, còn nếu tổn tại một phẩn cứng bất thường thì phải kiểm chứng bằng mô học.

c. Chọc hút bằng kim nh3 (Fine Needle Aspiration: FNA)

Dùng kim nhỏ chọc hút tế bào trong u phết mỏng trên lam để chẩn đoán tế bào. Phương pháp này ngày càng trở nên phổ biến. Phương pháp này có lợi điểm là nhanh, ít đau và ít tốn kém. Điểm chính yếu của phương pháp này là cần được nhà giải phẫu bệnh chuyên về tế bào học có kinh nghiệm đọc kết quả. Theo kết quả nhiều tác giả cho thấy FNA có độ chính xác cao trên 90%, âm tính giả và dương tính giả rất thấp (hình 10).

2. Sinh thiết

  • Sinh thiết lõi kim (core needle biopsy): Phương pháp này cho biết kết quả mô học và dấu hiệu sinh học của bướu. Dùng trong các tình huống lâm sàng còn nghi ngờ, hoặc cần hóa trị hoặc xạ trị trước (hình 11).
  • Sinh thiết tức thì hay cắt lạnh là phương pháp tốt nhất để giải quyết các tổn thương còn nhỏ, khó xác định lành hoặc ác tính bằng lâm sàng. Phương pháp tiến hành ngay trong mổ và cho kết quả trong khoảng thời gian ngắn (20-30 phút), giúp quyết định ngay phẫu thuật tận gốc nếu là u ác.
  • Dù là có kết quả cắt lạnh, ta cũng không quên thử giải phẫu bệnh theo phương pháp thông thường (phương pháp làm đông cứng bằng parafin) để có kết quả thật chính xác và thêm nhiều dữ kiện giúp cho hướng xử trí tiếp và định tiên lượng bệnh.
  • Sinh thiết trọn.
  • Kỹ thuật này có mục đích lấy trọn thương tổn sờ thấy trên lâm sàng và được nghĩ là lành tính qua khám lâm sàng, siêu âm và chọc hút tế bào bằng kim nhỏ.
  • Sinh thiết định vị ba chiểu dưới hướng dẫn của nhũ ảnh hay MRI dùng cho các sang thương nhỏ hơn 1cm.

enter image description here

C. XÉT NGHIỆM SINH HỌC

Các tiến bộ của y học trong những năm gần đây đã bắt đầu hướng về chẩn đoán bằng miễn dịch học. Trong lĩnh vực ung thư vú, người ta tìm kháng nguyên đặc hiệu: Kháng nguyên CEА (Carcino-Embryonic-Actigen), CA15-3, thụ thể Estrogen (Estrogen receptor: ER), thụ thể Progesterone (Progesterone receptor: PR) và Her2/neu có giá trị theo dõi bệnh và hướng điều trị hơn là chẩn đoán.

III. MỘT SỐ VẤN ĐỂ ĐẶC BIỆT

A. TỰ KHÁM VÚ

Phụ nữ nên được hướng dẫn cách khám vú từ khoảng-tuổi 25. Tốt nhất là sự khám vào cùng thời điểm của mỗi kinh kỳ, nhất là ngay sau khi sạch kinh vì lúc này tuyến vú ít bị căng nhất (hình 12).

B. TIẾT DỊCH Ở NÚM VÚ

Có khi tự nhiên, có khi do ngón tay đè lên đúng một chỗ nào đó của vú, đầu vú tiết ra chất dịch vàng trọng hoặc đỏ thẫm như máu. Phết mỏng trên lam để xem tế bào cũng có thể giúp chẩn đoán. X quang ống sữa đôi khi cho hình ảnh đặc trưng ngẹt ống sữa hoặc hình khuyết do khối u.

Các nguyên nhân thường gặp: Viêm ống sữa, u gai trong ống sữa và carcinôm trong ống sữa.

  • Đứng trước kiếng, ở trần, quan sát cả hai vú để xem có gì thay đổi về kích thước của vú, da vú, núm
  • Cũng quan sát như trên ở vị trí nghiêng người ra trước hoặc từ từ giơ hai tay lên khỏi đầu.
  • Vị trí nằm ngửa, kê gối dưới vai phải, dùng tay trái khám vú phải (ngược lại tay phải khám vú trái), tìm một u trong vú.
  • Khám vùng nách để tìm hạch.

C. VÚ LỞ LOÉT

Vú lở loét, nhiễm trùng và rướm máu có thể là triệu chứng rõ rằng của một ung thư vú ở giai đoạn trễ không điểu trị hoặc là tình trạng bùng phát của một ung thư do điều trị sai lầm (đập, giặt lá cây, hoặc lễ kim vào khối u để lấy cùi).

Đầu núm vú bị lở loét thường là triệu chứng của bệnh Paget núm vú. Bệnh khởi đầu bằng một vết lở giống eczêma ở núm vú, vết lở không chịu lành và từ từ ăn mất núm vú. Phải sinh thiết để có chẩn đoán chính xác, từ đó tiến hành phẫu thuật tận gốc vì vậy bệnh Paget thực sự là một carcinôm ở sâu ăn lần ra núm vú.

D. ÁP XE VÚ

Áp xe vú gồm tất cả các tình trạng nung mủ của tuyến vú. Đây là biến chứng thường gặp ở các bà mẹ cho con bú (hình 13). Khoảng 15-30 ngày sau khi sanh nở hoặc lúc đang dứt sữa, bà mẹ trẻ thấy vú trở nên nặng trĩu, kế tiếp cơn đau nhói khiến bà mẹ phải ngưng cho bú vú bên đó. Thường thì các bà mẹ kể lại là đã có để ý thấy một vết sướt ở đầu vú hoặc quầng vú. Sau đó trong tình trạng nóng sốt bẩn thẩn, người bệnh thấy một chỗ u lên (thường ở 1/4 dưới ngoài của vú) mà vùng da chỗ này lại có vẻ bình thường.

enter image description here

Khi sờ nắn thì thấy một “hột cứng” rất đau trong vú. Nên nhớ đừng chờ thấy triệu chứng phập phểu thông thường của các loại áp xe nóng khác, vì hiện tương nung mủ này nằm trong sâu. Nếu không rạch dẫn lưu đúng lúc thì sau đó da vú trở nên nóng đỏ, có dấu hiệu phập phểu, hạch nách sưng đau. Ngưng cho bé bú, rạch áp xe đúng mức sẽ giúp bệnh nhân lành nhanh chóng.

E. PHÌ ĐẠI TUYẾN VÚ

Phì đại tuyến vú thường phát triển tiếp theo sự đậy thì bình thường và khởi đầu kinh nguyệt, xảy ra ở cả hai vú nhưng thường phát triển mạnh ở một vú này hơn vú kia. Khi vú lớn quá thường gây ra đau đớn vì kéo xuống nặng quá.

Nữ hóa tuyến vú (gynecomastia) là sự phì đại của mô vú đàn ông, vú có hình thức giống như phụ nữ. Người ta phân biệt nữ hóa tuyến vú một bên và hai bên.

F. BỌC SỮA HAY NANG SỮA

Thường gặp khi cho con bú hoặc đang lúc dứt sữa, đó là tình trạng nghẹt đầu của một ống dẫn sữa khiến ống này phình to ra, chứa đầy sữa cũng các tế bào biểu mô tróc ra. Khi khám ta thấy một khối u tròn, không dính da, rất di động, thường nằm đưới quầng vú, bóp thì thấy cảm giác hơi nhão, chọc dò có thể rút được một ít chất sữa đặc như kem. Chọc hút hết thì không được vì sữa đặc quánh lại và bọc sữa sẽ tiếp tục thành lập do ống dẫn bị bít. Tốt nhất là mớ lấy trọn bọc sữa.

G. CÁC KHỐI U LÀNH

  • Bướu sợi-tuyen (fibroadenoma) thường gặp ở các thiếu nữ trẻ, tuổi dưới 25: Khối hình hột sen hoặc hột mứt, mật độ chắc vừa, đường kính khoảng 1 đến 4cm, bờ đểu mặt trơn láng có nhiều thùy, rất di động (dễ chạy tuột khỏi ngón tay khám). Bướu này thường được phát hiện tủnh cờ. Đôi khi có đau nhẹ và tăng thể tích ngay trước kỳ kinh.
  • Bướu diệp thể hoặc sarcôm-nang diệp thể, có rất nhiều tên gọi. Đặc trưng của loại này là tăng trưởng rất nhanh, có giới hạn rõ, có nhiểu thùy chứa chất lỏng và mô đặc, để trễ u có thể làm loét da và bể ra. Đa số là u lành, một số nhỏ có ác tính (khoảng 10%).
  • Nang vú là bệnh thường gặp trong khoảng tuổi 30-40 hiếm gặp ở tuổi đã mãn kinh. Nang vú có khi đơn độc, có khi là đa nang. Cảm giác căng cứng và đau ở vú hoặc tình cờ người bệnh sờ nắn thấy một khối u rất tròn, mật độ cứng, rất di động, thường hơi đau. Cơn đau có thể tăng lên ngay khi sắp có kinh. Sinh thiết cho chẩn đoán chính xác.

H. UNG THƯ VÚ

Ở Việt Nam, ung thư vú là ung thư thường gặp ở phụ nữ, đứng hàng thứ 2 sau ung thư cổ tử cung. Khoảng tuổi thường gặp thấy là 40-70, hiếm thấy ở tuổi dưới 30.

Hầu hết người bệnh tới khám với một u trong vú mà họ tự phát hiện.

Tiết dịch núm vú, đau vú, các triệu chứng làm lệch vú cũng khiến bệnh nhân đi khám. Trong thực tế, còn rất ít bệnh nhân được phát hiện ung thư vú do khám sức khỏe định kỳ..

Ung thư vú thường nằm ở 1/4 trên ngoài của vú. Đó là một u cứng, có mật độ khác hẳn mô vú lân cận, bờ không đều và lúc ban đầu thì thường không đau gì cả. Nhiều bệnh nhân hoặc thậm chí một vài thẩy thuốc chủ quan khi một u còn nhỏ trong vú không đau.

Nên nhớ rằng là ung thư vú khi dễ chẩn đoán lâm sàng thì tiên lượng rất xấu. Còn muốn phát hiện sớm để có tiên lượng thật tốt thì các triệu chứng rất ít, khiến chẩn đoán lâm sàng rất khó, vì vậy tốt nhất phải biết nghi ngờ rồi nhờ đến các xét nghiệm cận lâm sàng, nhất là sinh thiết tức thì.

TÀI LIỆU ĐỌC THÊM

  1. Lucien Léger. Sémiologie Chirurgicale Masson et Cie 1983.
  2. Nguyễn Chấn Hùng. Ung thư học lâm sàng tập 2, 1986.
  3. Michael Dixon. Disease of the breast. Churchill Communications Europe Ltd. Second Ed. 1998.
  4. Douglas Marchant. Breast disease. WB Saunders Company. 1997.